Câu hỏi:
01h:40, ngày 03/24/2016

Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) quy định những tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tuy nhiên, có nhiều cụm từ trong điều luật chúng tôi không hiểu. Đề nghị Quý Báo giải thích?

Luật sư Thanh Tú (Đoàn Luật sư TP.Hà Nội) trả lời: Vấn đề bạn hỏi đã được hướng dẫn cụ thể trong Nghị quyết sỗ 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung một số điều như sau: Cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh là cá nhân, tổ chức đã được các cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh cẩp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, cụ thể như sau: Cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác (theo Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Thương mại và các văn bản quy phạm pháp luật khác về đãng ký kinh doanh); Doanh nghiệp (theo Luật Doanh nghiệp và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp); Hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã (theo Luật Hợp tác xã và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Hợp tác xã); Cá nhân, tổ chức khác theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh. Mục đích lợi nhuận của cá nhân, tổ chức trong hoạt động kinh doanh, thương mại là mong muốn của cá nhân, tổ chức đó thu được lợi nhuận mà không phân biệt có thu được hay không thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, thương mại đó. Hoạt động kinh doanh, thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại. Đối với các tranh chấp quy định tại Khoản 2 Điều 29 BLTTDS thì không nhất thiết đòi hỏi cá nhân, tổ chức phải có đăng ký kinh doanh mà chỉ đòi hỏi cá nhân, tổ chức đều có mục đích lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, thương mại; nếu chỉ có một bên có mục đích lợi nhuận, còn bên kia không có mục đích lợi nhuận thì tranh chấp đó là tranh chấp về dân sự quy định tại Khoản 4 Điều 25 BLTTDS. Về các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty quy định tại Khoản 3 Điều 29 của BLTTDS cần phân biệt như sau : Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty là các tranh chấp về phần vốn góp của mỗi thành viên đối với công ty (thông thường phần vốn góp đó được tính bằng tiền, nhưng cũng có thể bằng hiện vật hoặc bằng giá trị quyền sở hữu công nghiệp); về mệnh giá cổ phiếu và số cổ phiếu phát hành đối với mỗi công ty cổ phần; về quyền sở hữu một phần tài sản của công ty tương ứng với phần vốn góp vào công ty; về quyền được chia lợi nhuận hoặc về nghĩa vụ chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp vào công ty; về yêu cầu công ty đòi các khoản nợ hoặc thanh toán các khoản nợ của công ty, thanh lý tài sản và thanh lý các hợp đồng mà công ty đã ký kết khi giải thể công ty; về các vấn đề khác liên quan đến việc thành lập, hoạt động giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty. Các tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau là các tranh chấp giữa các thành viên của công ty về trị giá phần vốn góp vào công ty giữa các thành viên của công ty; về việc chuyển nhượng phần vốn góp vào công ty giữa các thành viên của công ty hoặc về việc chuyển nhượng phần vốn góp vào công ty của thành viên công ty đó cho người khác không phải là thành viên của công ty; về việc chuyển nhượng cổ phiếu không ghi tên và cổ phiếu có ghi tên; về mệnh giá cổ phiếu, số cổ phiếu phát hành và trái phiếu của công ty cổ phần hoặc về quyền sở hữu tài sản tương ứng với sổ cổ phiếu của thành viên công ty; về quyền được chia lợi nhuận hoặc về nghĩa vụ chịu lỗ, thanh toán nợ của công ty; về việc thanh lý tài sản, phân chia nợ giữa các thành viên của công ty trong trường hợp công ty bị giải thể, về các vấn đề khác giữa các thành viên của công ty liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty. Khi thực hiện hướng dẫn tại Điểm a và Điểm b Khoản 5 Điều này, nếu giữa công ty với các thành viên của công ty hoặc giữa các thành viên của công ty có tranh chấp với nhau, nhưng tranh chấp đó không liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty mà chỉ liên quan đến các quan hệ khác như quan hệ lao động, quan hệ dân sự thì tranh chấp đó không phải là tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại Khoản 3 Điều 29 của BLTTDS. Tùy từng trường hợp cụ thể để xác định đó là tranh chấp về dân sự hay tranh chấp về lao động.
Câu hỏi:
01h:10, ngày 03/24/2016

Tháng 3.2010 ông bà nội tôi có làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho bố tôi (hợp đồng có công chứng nhà nước), bao gồm 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ). Tháng 8 năm 2010 ông tôi mất, giờ chỉ còn bà tôi sống cùng chúng tôi. Đến tháng 11.2011 bố tôi đột ngột qua đời mà chưa làm thủ tục sang tên tài sản đó. Ông Thi muốn hỏi là trường hợp của gia đình ông sẽ được giải quyết thế nào?

Theo quy định tại Điều 467, Bộ luật dân sự thì Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký. Tương tự tại Điều 692, BLDS thì việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai. Vì bố ông Thi chưa làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng (sang tên) đối với QSD đất được ông bà tặng cho nên căn cứ theo các quy định nêu trên thì Hợp đồng tặng cho chưa có hiệu lực và bố ông Thi chưa có quyền sở hữu đối với QSD 02 thửa đất đó và như vậy đây không được coi là di sản thừa kế của bố ông Thi. Như vậy, có thể căn cứ vào quy định tại khoản 3, Điều 424, BLDS để xác định Hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa ông bà nội và bố ông Thi đã chấm dứt. QSDĐ 02 thửa đất đó trở lại là tài sản chung của ông bà nội ông Thi, do ông nội đã mất nên ½ giá trị QSDĐ là tài sản thừa kế của ông nội, được chia cho các hàng thừa kế theo quy định của pháp luật và ½ giá trị QSDĐ là tài sản của bà nội ông Thi. Để giải quyết vấn đề một cách tốt nhất thì theo tôi, các diện thừa kế theo pháp luật của ông nội ông Thi nên thỏa thuận để bà nội ông Thi được hưởng toàn bộ tài sản thừa kế là ½ giá trị QSDĐ để bà có toàn quyền sử dụng đối với 02 thửa đất đó, sau đó làm thủ tục tặng cho lại con cháu theo đúng quy định của pháp luật. Luật sư Phạm Thị Huyền - Công ty Luật Song Thanh - Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội