Quốc hội thảo luận về dự án Luật Quản lý nợ công (sửa đổi)

11h:00, ngày 11/06/2017

Chiều 3/11, tiếp tục Chương trình Kỳ họp thứ 4, dưới sự điều khiển của Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển, Quốc hội thảo luận tại Hội trường về dự án Luật Quản lý nợ công (sửa đổi).

Luật Quản lý nợ công (sửa đổi) gồm 10 chương, 63 điều, quy định về quản lý nợ công, bao gồm hoạt động vay, sử dụng vốn vay, trả nợ và nghiệp vụ quản lý nợ công. Tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội đã thảo luận về nội dung luật này và tiếp tục thảo luận tại hội trường ở kỳ họp thứ 4. Dự kiến ngày 23/11 tới, Quốc hội sẽ biểu quyết thông qua dự án luật này.

Trong quá trình Quốc hội thảo luận, Đại biểu Đỗ Ngọc Thịnh, Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, đã phát biểu một số nội dung góp ý vào dự thảo Luật Quản lý nợ công. Cổng Thông tin điện tử Liên đoàn Luật sư Việt Nam xin đăng nguyên văn nội dung góp ý của Đại biểu Đỗ Ngọc Thịnh:

Luật sư Đỗ Ngọc Thịnh, Đại biểu QH (tỉnh Khánh Hòa), Chủ tịch LĐLSVN

đang phát biểu góp ý dự thảo Luật Quản lý nợ công

Dự thảo Luật quản lý nợ công trình Quốc hội là một dự thảo có chất lượng khá tốt, để tiếp tục hoàn thiện dự thảo, tôi xin đóng góp về 03 nhóm nội dung như sau:

Nhóm thứ nhất, về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý, sử dụng nợ công

  • Điều 6. Nội dung quản lý nhà nước về nợ công, tại điều này cần bổ sung thêm 3 nội dung quản lý nhà nước nữa là: Thực hiện công bố thông tin; trách nhiệm giải trình về nợ công; và Bảo đảm quyền giám sát, phản biện xã hội về nợ công; đồng thời có thêm quy định về khen thưởng (để tương thích với quy định về việc thanh tra, xử lý các vi phạm) cho các cá nhân và cơ quan có thành tích trong quản lý nợ công.
  • Điều 14. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ cần được thiết kế lại theo hướng diễn đạt chặt chẽ hơn để tránh hiểu nhầm Thủ tướng có quyền rất lớn, nhưng không rõ trách nhiệm trong việc ra các quyết định liên quan đến quản lý nợ công, nhất là về các quyền quy định tại các nội dung từ khoản 4 đến khoản 10 của Điều 14.
  •  Điều 15. Nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cần bổ sung vào khoản 3 nhiệm vụ thực hiện trách nhiệm giải trình và bảo đảm chất lượng thông tin về nợ công cho Bộ Tài chính với tư cách là đầu mối quản lý chung, thống nhất về nợ công theo phân công của Chính phủ.
  • Điều 20. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý nợ công, cần đưa khoản 3 thành khoản 1 với nội dung “Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có liên quan đến quản lý nhà nước về nợ công phải chịu trách nhiệm cá nhân trong trườnghợp xảy ra vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức”. Vì nội dung này khá rõ, cụ thể và quan trọng nhất; đồng thời, cần chỉnh sửa, bổ sung tiếp hai khoản còn lại của Điều 20 theo hướng tránh quy định chung chung, tránh lặp lại ý trên về trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến quản lý nợ công.

Nhóm thứ hai, về Điều 21. Chỉ tiêu an toàn nợ công

Ngoài những chỉ tiêu đã nêu trong khoản 2 điều này, tôi cho rằng nên tiếp thu và bổ sung một số chỉ tiêu tham chiếu khác về an toàn nợ công mà nhiều nước và nhiều tổ chức tài chính quốc tế thường dùng, như: Nghĩa vụ nợ nước ngoài của quốc gia trên tổng dự trữ ngoại hối quốc gia; Nợ công bình quân trên đầu người dân; Và đặc biệt là ở Việt Nam cần dùng chỉ tiêu đặc thù là: Nợ xấu khó đòi của khu vực DNNN so với tổng sản phẩm quốc nội …Vì thực tế cho thấy, nợ của khu vực DNNN, kể cả nợ tự vay tự trả hay nợ được bảo lãnh, đều luôn là một trong những áp lực mạnh đẩy trần nợ công trong suốt nhiều năm qua và cả trong nhiều năm sắp tới.

Nhóm thứ ba, về quản lý cho vay lại và vay nước ngoài của Chính phủ

Tôi cho rằng cơ quan soạn thảo và Quốc hội cần đặc biệt cân nhắc kỹ thêm Điều 33. Đối tượng được vay lại, đưa doanh nghiệp đứng đầu trong nhóm 3 đối tượng vay lại, xếp trên cả Đơn vị sự nghiệp công lập và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.

Đáng ngại hơn là Điều 34. Nguyên tắc cho vay lại, đã xác định tại khoản 2. Chính phủ cho vay lại toàn bộ hoặc một phần vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài cho các đối tượng được vay lại theo quy định tại Điều 33 của Luật này.

Hơn nữa, tại Điều 35. Phương thức cho vay lại còn khẳng định cơ chế cho vay lại như khoản 3. Trong trường hợp này thì cơ quan cho vay lại chịu toàn bộ rủi ro tín dụng, cho rằng dù điều kiện được vay lại thiết kế tưởng chừng chặt chẽ như Điều 36. Điều kiện được vay lại và nếu thiết kế như Điều 36, qua thực tế cho thấy, khi có liên kết lợi ích nhóm, công tác thanh, kiểm tra không sâu sát, thông tin bị bóp méo thì các quy định trên đây chỉ là hình thức và là sợi dây rất mỏng manh, bởi vì doanh nghiệp kinh doanh sẽ tìm mọi cách “chạy thủ tục” và “vận động”, “bôi trơn” để được vay trong khi cơ quan cho vay lại phải chịu toàn bộ rủi ro như quy định. Như các đại biểu đã biết hệ thống NHTM và các tổ chức tài chính, tín dụng, cũng như bản thân các doanh nghiệp sản xuất-kinh doanh của nước ta trong thời gian vừa qua đã có nhiều vấn đề tồn tại, bất cập, rất phức tạp, chưa thể xử lý nhanh được ngay vì khó cho phá sản khi đã có dấu hiệu hội đủ điều kiện. Rút cục là tiền cho vay lại doanh nghiệp để sản xuất-kinh doanh đó sẽ dễ biến thành khoản nợ xấu, nợ khó đòi mới và tiếp tục làm tăng áp lực nợ công.

Hơn nữa, trong dự thảo Luật này cũng đã có nội dung về nợ doanh nghiệp do Chính phủ bảo lãnh tại: Điều 41. Đối tượng được bảo lãnh Chính phủĐiều 43 quy định về Điều kiện cấp bảo lãnh Chính phủ.

Nếu thiết kế như dự thảo thì có thể thấy: cùng một Luật về quản lý nợ công, có tới hai cơ chế doanh nghiệp được tiếp cận vốn đầu tư công là cơ chế cho vay lại và cơ chế Chính phủ bảo lãnh na ná giống nhau, chỉ khác về thẩm quyền quyết định, mà rút cục đều “trăm dâu đổ đầu tằm” là gánh nặng nợ công như vậy.

Ngoài ra, cần nhấn mạnh rằng, nếu Chính phủ chủ trương đi vay thương mại rồi chuyển để Bộ Tài chính cho vay lại doanh nghiệp sản xuất-kinh doanh thì sẽ không đúng tinh thần với Luật NSNN; đồng thời, đi ngược lại xu hướng cải cách thể chế hiện nay là giảm vai trò nhà nước là nhà đầu tư, và ngày càng thu hẹp vai trò đầu tư công trong khu vực sản xuất-kinh doanh vì lợi nhuận; Đặc biệt, cần thực hiện việc phân phối, sử dụng các nguồn lực xã hội theo nguyên tắc thị trường được khẳng định mạnh mẽ trong các Nghị quyết 10, 11 và 12 Hội nghị TW 5 Khóa XII do TBT Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành ngày 03/6/2017.

Bởi vậy, tôi đề nghị nên cân nhắc kỹ và kiên quyết bỏ quy định đối tượng doanh nghiệp sản xuất-kinh doanh được vay lại theo Điều 33, 34 và 35 của dự thảo Luật này, để ngăn chặn sớm nguy cơ bị lạm dụng và mất kiểm soát nợ công trong thời gian tới.

Xin cảm ơn Quốc hội ./.

Văn phòng LĐLSVN tổng hợp