Đoàn công tác LĐLSVN tham dự Hội nghị thường niên Hiệp hội Luật sư quốc tế IBA năm 2026 tại Copenhagen (Đan Mạch) Kỳ I: Từ lịch sử nghề luật sư ở Việt Nam – Nhìn ra thế giới

Những ngày chuẩn bị lên đường, thời tiết tại TP. Hồ Chí Minh có nhiều biến động, những cơn mưa giông đặc biệt lớn gây ngập lụt nhiều nơi ở trung tâm, các thành viên trong Đoàn công tác của Liên đoàn Luật sư Việt Nam (VBF) phải thu xếp các công việc còn dở dang, di chuyển sớm vào thành phố để phòng tình trạng tắc đường ra Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất. Đoàn công tác VBF tham dự Hội nghị thường niên năm 2026 tổ chức tại Copenhagen (Đan Mạch) gồm LS. TS Phan Trung Hoài, Phó Chủ tịch VBF; LS. Nguyễn Đình Hải, Ủy viên Hội đồng luật sư toàn quốc, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Xây dựng pháp luật và Trợ giúp pháp lý; LS. Dương Văn Thành, Phó Chủ nhiệm Đoàn luật sư tỉnh Quảng Trị; LS. Phan Minh Hoàng, thành viên Đoàn luật sư TP Hồ Chí Minh; LS. Lê Thị Thúy Nga, thành viên Đoàn luật sư tỉnh Quảng Trị.

Hội thảo “tham vấn về các giải pháp phát triển thị trường dịch vụ pháp lý minh bạch, chuyên nghiệp và hiệu quả ở Việt Nam” do Bộ Tư pháp và Liên Minh Châu Âu tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh ngày 09/9/2026 (Ảnh: Quang Nguyễn).

Hội thảo “tham vấn về các giải pháp phát triển thị trường dịch vụ pháp lý minh bạch, chuyên nghiệp và hiệu quả ở Việt Nam” do Bộ Tư pháp và Liên Minh Châu Âu tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh ngày 09/9/2026 (Ảnh: Quang Nguyễn).

Mặc dù đã tham dự nhiều kỳ Hội nghị thường niên của Hiệp hội Luật sư quốc tế (IBA), nhưng với bối cảnh lần này khi đất nước đang chuyển mình bước vào kỷ nguyên mới, cùng với mục tiêu phát triển kinh tế và quan hệ ngoại giao ngày càng mở rộng, mỗi thành viên trong Đoàn đều xác định tâm thế đại diện cho VBF để tham gia sự kiện quan trọng nhất của giới luật sư quốc tế. Bản thân tôi mang nhiều tâm trạng nghĩ suy sau Hội thảo tham vấn về giải pháp phát triển thị trường dịch vụ pháp lý minh bạch, chuyên nghiệp và hiệu quả do Bộ Tư pháp Việt Nam tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh ngày 09/9/2026. Đây là Hội thảo được tổ chức trong khuôn khổ Dự án “Tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam giai đoạn II” do Liên minh Châu Âu (EU) tài trợ, với sự tham dự của đại diện EU cùng nhiều luật sư quốc tế.

Hơn 17 năm tham gia hoạt động của Liên đoàn, có được cơ hội tiếp cận, tìm hiểu một số quốc gia có nghề luật phát triển như Hoa Kỳ, Canada, CHLB Đức, Italia, Cộng hòa Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc, cho đến các nước trong khu vực Đông Nam Á, trong tôi vẫn ưu tư nhiều về sự khác biệt từ điểm xuất phát trong lịch sử hình thành nghề luật sư ở Việt Nam so với nhiều nước trên thế giới. Với hơn 5.000 luật sư đến từ các quốc gia chuẩn bị hội tụ tại Trung tâm Hội nghị Bella Center ở Copenhagen, tôi bất giác nhớ lại thuở sơ khai từ thế kỷ I trước Công nguyên đến thế kỷ II sau Công nguyên, đã xuất hiện một tầng lớp hiệp sĩ tại Hy Lạp (Grèce) và La Mã (Rome), có tinh thần xả thân vì nghĩa hiệp và sự tinh thông về pháp luật, coi đây là vũ khí, sức mạnh tinh thần đấu tranh chống lại áp bức, bất công trong xã hội.

Đến thế kỷ thứ IV sau Công nguyên, họ tập hợp tại Rome thành một đoàn thể được độc quyền biện hộ trước Hoàng đế. Đến cuối thế kỷ thứ VIII mới có danh xưng “Advocats”cho 17 vị và được vua chúa công nhận có quyền biện hộ trước các Tòa án, từ đó nghề luật sư ở nhiều quốc gia trên thế giới được mở rộng và phát triển như hiện nay.

Tại Hội thảo với sự hiện diện của đại diện giới luật sư Cộng đồng Châu Âu, tôi có cơ hội trình bày những kết quả nghiên cứu của mình, cho thấy ở một góc nhìn khác ở Việt Nam khi dòng chảy pháp luật thành văn thông qua công cuộc điển chế của các vị vua thời phong kiến, đã hình thành tư tưởng và định chế liên quan tố tụng. Bên cạnh Bộ Hình thư đời nhà Lý định ra để “phép xử án được bằng thẳng rõ ràng”, điều khá đặc biệt là quan niệm của xã hội (nhất là các Hương ước trong cộng đồng làng, xã) đối với những người được gọi là “thầy cung, thầy kiện”, bị coi là “xui nguyên giục bị”, không được trọng dụng, bị cấm ứng thi hoặc tiến cử làm quan theo Phép thi hương tháng Tư năm Nhâm Ngọ (1462) dưới đời Lê Thánh Tông (1460-1497). Học giả Đào Duy Anh lập luận rằng: “Nhà lập pháp (thời quân chủ) dụng tâm làm cho dân bớt kiện tụng, như gia tội những người chống án không căn cứ, cấm nghề thầy kiện, thầy cung. Sở dĩ có điều này là vì dân nhà quê ta rất hiếu tụng, đó cũng là một ảnh hưởng của nông nghiệp”.

Câu chuyện này có thể là một nghịch lý bởi cách tiếp cận của xã hội Việt Nam thời phong kiến, những người bị đặt danh là “thầy cung, thầy kiện” không được phát triển và trọng dụng. Tuy nhiên, nhìn sâu sa từ trong lịch sử nước nhà, tinh thần nhân văn của các bậc minh quân vẫn thể hiện quan niệm “thương dân”, nhất là những người bị tù tội. Việt Nam còn lưu giữ Bộ luật Hồng Đức (còn gọi là Lê triều hình luật) thời nhà Lê (1428-1788) với một ảnh hưởng sâu sắc trong sự phát triển của xã hội Việt Nam; cùng với bộ Quốc triều khám tụng điều lệ như một cột mốc đầu tiên đánh dấu trong lịch sử lập pháp của Việt Nam có một bộ luật tố tụng riêng biệt. Các đạo luật trên ghi nhận nhiều quan điểm mới, tiến bộ về việc bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của người phạm tội, cho phép họ tự bào chữa và bảo đảm việc “tranh biện” kỹ lưỡng.

Dưới đời vua Minh Mạng (1820-1840), Tam Pháp Ty được coi là pháp đình cao nhất ở nước ta thời đó, là một cơ quan gồm có các quan cao cấp ở Đại Lý Tự, Đô Sát Viện và Hình bộ tập hợp lại. Hàng tháng, vào các ngày sáu, mười sáu và hai mươi sáu (âm lịch), Tam Pháp Ty khai hội đồng ở một tòa nhà trong Kinh đô gọi là Công chính đường để thu nhận các đơn khiếu nại, dân chúng trong toàn quốc được đến Công chính đường để nộp các đơn kháng về các vụ kiện mà họ cho là đã bị quan tỉnh xử oan ức hoặc đánh trống kêu oan.

Nghề luật sư ở Việt Nam được chính thức khởi nguồn từ Sắc lệnh ngày 25/7/1864 của Hoàng đế Napoléon III, hình thành những người bào chữa (défenseur) đặt bên cạnh các Tòa án thuộc địa, là những công chức được Thống đốc bổ nhiệm và bãi nhiệm, phải là công dân Pháp và trải qua kỳ thi tuyển theo pháp luật của Pháp. Sau đó, người bào chữa được đổi thành “luật sư- biện hộ viên” (Avocat- défenseur) vào năm 1884, vẫn là công dân Pháp, được hưởng thù lao bào chữa theo thỏa thuận. Với Sắc lệnh ngày 25/5/1930 (sau đó được sửa đổi bởi Sắc lệnh ngày 21/7/1931) do Toàn quyền Đông Dương ban hành, chế định luật sư được coi là có những cải tổ quan trọng, trong đó danh xưng “luật sư-biện hộ viên” đã được thay bằng “luật sư” và tổ chức thành 02 Luật sư đoàn riêng biệt ở Sài Gòn và Hà Nội, thực sự chấm dứt chế độ luật sư công chức, trở thành hội đoàn độc lập, có tư cách pháp nhân…

Các đại biểu tham dự tại Hội thảo do Bộ Tư pháp tổ chức ngày 09/9/2026 (Ảnh: Quang Nguyễn).

Các đại biểu tham dự tại Hội thảo do Bộ Tư pháp tổ chức ngày 09/9/2026 (Ảnh: Quang Nguyễn).

Khoảng thời gian Đoàn công tác tham dự Hội nghị thường niên IBA năm 2026 dự kiến kết thúc vào ngày 10/10/2026, cũng chính là dịp kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống luật sư Việt Nam, càng nhớ đến công ơn trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau một thập kỷ bôn ba qua các lục địa Âu, Á, Phi, Mỹ…, vừa lao động vừa kiếm sống, bằng nhãn quan tinh tường và trực tiếp hòa mình vào đời sống của giai cấp công nhân cùng khổ, Nguyễn Ái Quốc thật sự đã có được điều kiện để tiếp cận với các hệ tư tưởng pháp lý khác nhau, các thể chế chính trị, tìm hiểu cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức, nhận thức về quyền tự do dân chủ của người dân không thể tách rời với quyền của các dân tộc thuộc địa, sự thống nhất giữa mục tiêu giành độc lập dân tộc. Chính Người đã đặt nền móng về tư tưởng “cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu. Trong cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sở dĩ Người luôn quan tâm đến sự phát triển của đội ngũ luật sư, bởi trong một hoàn cảnh và thời điểm đặc biệt, khi bị chính quyền Hồng Kông bắt giữ ngày 6/6/1931, Người đã được luật sư F.H. Loseby cùng các cộng sự bào chữa trắng án qua 9 phiên tòa từ 31/7 đến 12/9/1931.

Chỉ sau 01 tháng 8 ngày khi giành được chính quyền dân chủ nhân dân và đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 46/SL ngày 10/10/1945, trong đó tạm thời cho duy trì các tổ chức đoàn thể luật sư theo Sắc lệnh ngày 25/5/1930 nói trên, khai mở cho lịch sử hình thành nghề luật sư cách mạng ở Việt Nam hiện nay. Bác Hồ cùng Đảng ta chỉ đạo việc xây dựng Hiến pháp năm 1946 – bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Đông Nam Á – chứa đựng những tinh hoa cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối lãnh đạo cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân của Đảng, trong đó Điều 67 của Hiến pháp năm 1946 quy định: “Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư”. Sau này, các bản Hiến pháp đều ghi nhận nguyên tắc trọng yếu về bảo đảm quyền tư bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa, làm nền tảng cho toàn bộ hoạt động của luật sư trong chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Không những thế, trong bối cảnh thách thức “ngàn cân treo sợi tóc” với chính quyền cách mạng còn non trẻ, thù trong giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/9/1949 hình thành chế định bào chữa viên nhân dân để phục vụ, bảo đảm quyền bào chữa cho bị can trong thời chiến. Chế định này kịp thời phát huy tác dụng tích cực trong việc tham gia và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trước Tòa án và đó là nét đặc sắc chưa từng có tiền lệ trong lịch sử nghề luật sư trên thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người quyết định giữ lại tổ chức luật sư khi nảy sinh cuộc tranh luận về việc “giữ hay không giữ Đoàn Luật sư” từ thời Pháp thuộc để lại. Không những thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ đạo Bộ Tư pháp kiểm điểm công tác bảo đảm quyền bào chữa, nhận thức về tầm quan trọng của quyền tự do bào chữa trong chế độ dân chủ nhân dân nói chung và trong nền tư pháp dân chủ nhân dân của ta nói riêng, xác định quyền bào chữa là một quyền tự do dân chủ trọng yếu trong các quyền tự do dân chủ của người công dân. Xâm phạm đến quyền tự do bào chữa thì không thể nào thực hiện được các quyền tự do dân chủ khác, “mặc nhiên thủ tiêu các quyền tự do đó”. Từ nhận thức đó, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 2225-HCTP ngày 24/10/1956 khẳng định “nếu bị can không được sử dụng đầy đủ quyền bào chữa thì không gọi là có công lý”.

Có thể nói, lịch sử hình thành và phát triển nghề luật sư ở Việt Nam cho thấy đội ngũ luật sư luôn song hành, tận hiến, nhiều bậc tiền bối đã hy sinh trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và vai trò, công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các bậc luật sư tiền bối như luật sư liệt sĩ Thái Văn Lung, các luật sư Phan Anh, Trần Công Tường, Phạm Văn Bạch, Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo… đã trở thành tấm gương cho các thế hệ luật sư sau này noi theo và phấn đấu.

Điều này giải thích lý do vì sao, một trong những yếu tố căn cốt trong giải pháp phát triển nghề luật sư và thị trường dịch vụ pháp lý chính là nhận thức đầy đủ về sự hình thành nghề luật sư cách mạng ở Việt Nam, từ đó tạo lập vị thế và trách nhiệm của đội ngũ luật sư trong sứ mệnh bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội, góp phần vào sự phát triển kinh tế, xây dựng xã hội Việt Nam dân chủ, công bằng, văn minh. Với góc nhìn nêu trên, tôi nghĩ đó chính là đặc điểm riêng có của nghề luật sư ở Việt Nam so với nhiều quốc gia có nghề luật phát triển trên thế giới…

Đoàn công tác tại sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất trước giờ cất cánh trên chuyến bay VN 39 khởi hành lúc 23h25 ngày 02/10/2026.

Đoàn công tác tại sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất trước giờ cất cánh trên chuyến bay VN 39 khởi hành lúc 23h25 ngày 02/10/2026.

LS.TS. PHAN TRUNG HOÀI
Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam