Bài viết đề cập đến một số kết quả thi hành BLTTHS thời gian qua, làm rõ thêm một số bất cập trong pháp luật thực định, khó khăn, vướng mắc trong quá trình luật sư tham gia các vụ án hình sự, từ đó đề xuất một số kiến nghị cụ thể để cơ quan chủ trì soạn thảo và cơ quan thẩm định xem xét trước khi trình Quốc hội thảo luận và biểu quyết thông qua.
Đặt vấn đề
Trong thời gian vừa qua, Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã cử đại diện tham gia Ban chỉ đạo và các luật sư được cử làm thành viên Tổ Biên tập, có nhiều văn bản đóng góp ý kiến trong quá trình xây dựng Dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) liên quan đến các quy định về vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ của người bào chữa cho người bị buộc tội, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự. Theo đánh giá của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội[1], Dự thảo BLTTHS (bản ngày 15/10/2026) đã thể chế hóa các chính sách mới trong các Nghị quyết của Đảng, có sự kết nối với chính sách Bộ luật hình sự, dựa trên cơ sở thực tiễn thi hành, kết quả đạt được, những bất cập, vướng mắc và nguyên nhân trong quá trình thực thi BLTTHS, đặt ra nhiều vấn đề mới nhằm sửa đổi toàn diện BLTTHS hiện hành. Tuy nhiên, Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) vẫn còn một số vấn đề cần được hoàn thiện liên quan đến vị trí, vai trò và sự tham gia của luật sư trong tố tụng hình sự.
1. Một số ý kiến về kết quả, vướng mắc, khó khăn trong pháp luật thực định và thi hành liên quan đến vai trò và sự tham gia của luật sư trong tố tụng hình sự
1.1. Vai trò của luật sư trong tố tụng hình sự
Kể từ khi BLTTHS năm 2015, có hiệu lực từ năm 2017 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024 và 2025) đến nay, diện mạo đời sống tố tụng ở Việt Nam đã có những bước chuyển rất quan trọng, có được khuôn khổ pháp lý tạo nền tảng cho các chủ thể thực hiện các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự (TTHS) là chức năng buộc tội, chức năng gỡ tội và chức năng xét xử. Đây là một trong những đạo luật tố tụng cơ bản của nước ta, liên quan mật thiết đến các vấn đề đặc biệt quan trọng như sự vận hành của thể chế tư pháp và tố tụng, tác động trực tiếp đến hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Trong bối cảnh đất nước đang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tình hình tội phạm trong đời sống kính tế-xã hội vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp. Trước thực tiễn nêu trên, các cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) ở Trung ương và địa phương đã nỗ lực rất lớn nhằm nâng cao chất lượng hoạt động điều tra, truy tố và xét xử, bảo đảm việc giải quyết các vụ án được thực hiện đúng trình tự, thủ tục pháp luật, khách quan, toàn diện và đúng thẩm quyền. Nhiều bản án, quyết định của Tòa án trong thời gian qua được ban hành trên cơ sở quá trình tố tụng chặt chẽ, có sự tham gia của các chủ thể tố tụng theo quy định của pháp luật, trong đó có người bào chữa cho người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự. Quá trình giải quyết các vụ án hình sự không chỉ nhằm xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật mà còn góp phần làm rõ các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, từ đó phục vụ công tác phòng ngừa, hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật, cũng như tăng cường bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp.
Có thể khẳng định, với việc ghi nhận quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa là quyền Hiến định, phù hợp với các Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế mà Việt Nam đã tham gia và ký kết, quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về luật sư, cũng như bảo đảm quyền bào chữa đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm đúng mức thông qua việc ban hành các Nghị quyết của Đảng và các bộ luật, luật, thông tư hướng dẫn của Bộ Công an và liên ngành tư pháp Trung ương (đã nêu trong Hồ sơ chính sách Dự án BLTTHS). Vị trí, vai trò và chức năng xã hội của đội ngũ luật sư Việt Nam[2] đã có bước chuyển mạnh mẽ, tạo được chỗ đứng trong xã hội, có được sự tin cậy nhất định từ phía các thiết chế quyền lực, quản lý, các chủ thể xã hội và công dân.
Trong một chừng mực nhất định, hoạt động hành nghề luật sư đã góp một phần quan trọng trong cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, có vai trò ngày càng đậm nét trong quá trình dân chủ hóa hoạt động tố tụng, góp phần bảo vệ công lý, sự thật khách quan của các vụ án, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền con người trong đời sống tư pháp, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể xã hội. Nhiều luật sư đã tham gia từ giai đoạn điều tra, nghiên cứu hồ sơ, thu thập tài liệu, tham gia tranh tụng tại phiên tòa, qua đó góp phần nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng và góp phần vào quá trình hình thành phán quyết của Tòa án dựa trên quy định của pháp luật. Trong nhiều vụ án, ý kiến của luật sư bào chữa đã được Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá trong quá trình nghị án và ban hành bản án, quyết định theo quy định của pháp luật. Việc tôn trọng, xem xét các ý kiến tranh tụng tại phiên tòa cho thấy nguyên tắc tranh tụng trong xét xử ngày càng được quan tâm bảo đảm trong thực tiễn, qua đó góp phần nâng cao chất lượng hoạt động xét xử và củng cố niềm tin của nhân dân đối với hoạt động tư pháp.
1.2. Một số vướng mắc về vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ của luật sư trong tố tụng hình sự
Sau hơn 08 năm triển khai thực hiện, bên cạnh những kết quả tích cực nêu trên, thực tiễn cho thấy còn có nhiều vướng mắc, bất cập, một số quy định không còn phù hợp hoặc chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu mới của cải cách tư pháp…, trong đó nổi lên các vấn đề liên quan đến vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ của luật sư tham gia bào chữa cho bị can, bị cáo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự:
Theo báo cáo của các cơ quan tiến hành tố tụng, từ năm 2007 đến tháng 9/2025, số luật sư tham gia trong giai đoạn điều tra là 183.180/1.326.377 vụ án (đạt 13,81%). Trong giai đoạn tố tụng tại Tòa án, tỷ lệ luật sư tham gia tố tụng cao nhất ở giai đoạn xét xử phúc thẩm với 117.399/527.374 vụ án có luật sư tham gia (đạt 22,26%); giai đoạn xét xử sơ thẩm với 406.778/5.026.403 vụ án có luật sư tham gia (đạt 8,1%); giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm có 169/14.979 vụ án có luật sư tham gia (đạt 1,12%)[3], trong khi gần như 100% các luật sư tham gia đầy đủ và tích cực các vụ án yêu cầu chỉ định.
Nguyên nhân tỷ lệ luật sư tham gia TTHS còn thấp, bên cạnh số liệu thống kê chưa thống nhất do chưa kết nối cơ sở dữ liệu dùng chung của các cơ quan THTT, có một phần xuất phát là do một số quy định của BLTTHS hiện hành chưa thật sự tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn trong quá trình tham gia TTHS của luật sư. Bên cạnh nhận thức của một số cơ quan và người tiến hành tố tụng chưa đầy đủ về vị trí, vai trò của luật sư là một chủ thể quan trọng thực hiện chức năng cơ bản của TTHS là chức năng gỡ tội, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận là chất lượng tham gia tố tụng của luật sư còn có những mặt hạn chế.
Qua thực tiễn thi hành BLTTHS, một số quy định trong BLTTHS chưa phản ánh và thể hiện được đầy đủ vị trí, vai trò của luật sư tham gia TTHS với tư cách là người bào chữa cho người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự, thể hiện ở một số điểm cụ thể như sau:
– Về địa vị pháp lý của người bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Liên quan đến địa vị pháp lý là người tham gia tố tụng, tư cách tham gia tố tụng của người bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự chưa thật sự bình đẳng với người THTT, là quyền năng phái sinh của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, các đương sự, phụ thuộc vào sự chấp thuận hay không của các cơ quan và người THTT thông qua rào cản thủ tục hành chính về đăng ký bào chữa.
– Về diện chủ thể người bào chữa: Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 BLTTHS, người bào chữa có thể là: (a) Luật sư; (b) Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; và (c) Bào chữa viên nhân dân. Tuy nhiên, diện chủ thể người bào chữa hiện nay quá rộng, chưa thật sự tạo điều kiện cho việc hình thành đội ngũ luật sư chuyên nghiệp, một số đối tượng chưa quy định tiêu chuẩn, điều kiện đáp ứng yêu cầu của việc tham gia bào chữa, hiệu quả tham gia tố tụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo còn hạn chế[4].
– Về thủ tục cấp thông báo về việc đăng ký bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Mặc dù Điều 27 Luật Luật sư, Thông tư số 46/2019/TT-BCA ngày 10/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định rất chi tiết các thủ tục cần thiết, nhưng thực tế phần lớn việc cấp Thông báo đăng ký bào chữa không được bảo đảm trong thời hạn 24 giờ. Vấn đề về hiệu lực giá trị Thông báo đăng ký bào chữa qua các giai đoạn TTHS, thủ tục cấp và thu hồi Thông báo đăng ký người bảo vệ quyền lợi cho đương sự trong TTHS cũng chưa được làm rõ, bị chế ước bởi nhiều thủ tục phái sinh[5].
– Về sự tham gia tố tụng của luật sư trong giai đoạn điều tra: Theo quy định tại các điểm (a), (b), (c) và (d) khoản 1 Điều 73 BLTTHS, người bào chữa có quyền gặp, hỏi người bị buộc tội; có mặt khi lấy lời khai người bị tạm giữ và khi hỏi cung bị can, được phép đặt câu hỏi với bị can nếu được sự đồng ý của điều tra viên; có quyền đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian, địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can… Tuy nhiên, việc tham gia tố tụng của luật sư trong giai đoạn điều tra thực tế còn gặp nhiều vướng mắc, khó khăn.
BLTTHS chưa quy định rõ cách thức thông báo, giải thích quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa[6], chưa tạo điều kiện giải quyết cho luật sư vào gặp theo đề nghị để hỏi lý do bị can bị tạm giam từ chối theo quy định tại khoản 3 Điều 77 BLTTHS; không có quy định cho phép người bào chữa được tiếp xúc riêng và nội dung thông tin trao đổi với người bị tạm giữ, bị can trong Trại tạm giam trong giai đoạn điều tra (trừ các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia) không được bảo mật. Chưa có quy định thống nhất về giá trị pháp lý sự hiện diện và chữ ký của luật sư trên các biên bản hỏi cung người bị tạm giữ, bị can là bắt buộc[7]. BLTTHS chưa quy định cụ thể về thể thức thu thập chứng cứ của luật sư, cũng như cơ chế bảo đảm cho việc các cơ quan có liên quan hỗ trợ, cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của luật sư, cơ chế và hình thức xử lý nếu có vi phạm quyền bào chữa của người bị tình nghi phạm tội.
– Về sự tham gia tố tụng của người bào chữa trong giai đoạn quyết định truy tố: Thực tiễn tố tụng cho thấy một số hoạt động của Kiểm sát viên như tiến hành phúc cung, thực nghiệm điều tra, trưng cầu giám định tư pháp… không có sự tham gia của người bào chữa. Các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của người bào chữa chưa được Viện kiểm sát trả lời hoặc giải quyết đối với trường hợp bị hạn chế, cản trở sự tham gia trong giai đoạn điều tra.
– Về sự tham gia tố tụng của người bào chữa trong giai đoạn xét xử tại Tòa án các cấp: khoản 2 và khoản 3 Điều 322 BLTTHS quy định Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để “đối đáp đến cùng” từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa; chủ tọa phiên toà không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án. Nếu Kiểm sát viên không đáp lại thì cũng không có cơ chế nào buộc Kiểm sát viên phải tranh luận, đối đáp đến cùng. Tại phiên tòa phúc thẩm, việc bổ sung chứng cứ mới hoặc bổ sung tài liệu, đồ vật của người bào chữa được quy định tại Điều 353 BLTTHS, nhưng trình tự thu thập các chứng cứ, tài liệu, đồ vật này và đánh giá thế nào là “chứng cứ mới” chưa được pháp luật quy định rõ. Theo Điều 383 BLTTHS, khi xét thấy cần thiết, Tòa án phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa và có thể triệu tập những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm, nhưng thế nào là trường hợp “xét thấy cần thiết” thì chưa được làm rõ.
– Về một số trình tự tố tụng thiếu vắng sự tham gia của luật sư: BLTTHS hiện hành chưa có quy định về sự tham gia của luật sư trong biện pháp tố tụng điều tra đặc biệt (chương XVI); hỗ trợ pháp lý cho bị án trong thủ tục thi hành án tử hình, xét tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích (Điều 367, 368, 369 chương XXIV BLTTHS); sự tham gia của luật sư trong thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
1.3. Vướng mắc, bất cập liên quan vấn đề bảo đảm quyền bào chữa
Trong quá trình thi hành BLTTHS, những vướng mắc, bất cập liên quan vấn đề bảo đảm quyền bào chữa có thể xuất phát từ một số nguyên nhân:
Thứ nhất, quyền bào chữa gắn chặt với chức năng gỡ tội, có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với các chức năng cơ bản khác của TTHS Việt Nam là chức năng buộc tội và chức năng xét xử. Tuy nhiên, trên thực tế, việc khởi tố, tiến hành điều tra và đề nghị truy tố vẫn thuộc phần chủ động của Cơ quan điều tra, vai trò của Viện kiểm sát có phần thụ động. Phần điều hành và xét hỏi của Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử chiếm phần lớn thời gian phiên tòa.
Thứ hai, do địa vị pháp lý của người bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chỉ là người tham gia tố tụng[8], phạm vi hoạt động thuộc lĩnh vực “bổ trợ tư pháp” nên luật sư là người trợ giúp pháp lý còn mang tính bị động, chưa có cơ sở cho việc hành nghề một cách bình đẳng và độc lập với các chủ thể THTT. Trong một chừng mực nào đó, quyền năng của luật sư là quyền năng phái sinh, phụ thuộc hoàn toàn vào sự chấp thuận hay không của các cơ quan và những người THTT. Còn thiếu cơ chế bảo đảm thực hiện quyền của những người tham gia tố tụng, đặc biệt là cơ chế bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo; chế tài đối với các hành vi cản trở quyền hành nghề của luật sư.
Thứ ba, những vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực thi TTHS và bảo đảm quyền bào chữa có phần xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ về quá trình dân chủ hóa hoạt động TTHS, dẫn đến khả năng luật sư tham gia hiệu quả, góp phần cùng các cơ quan THTT làm rõ sự thật khách quan của vụ án, có thể nảy sinh rủi ro cao trong quá trình hành nghề của luật sư. Điều đó ảnh hưởng đến yêu cầu xây dựng một nền tư pháp dân chủ, công bằng, nghiêm minh, bảo vệ công lý, ảnh hưởng đến bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp.
3. Một số kiến nghị về vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ của luật sư trong Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi)
3.1. Một số đánh giá chung
BLTTHS giữ vai trò là thiết chế trung tâm bảo đảm thực thi quyền lực tư pháp, đồng thời là công cụ pháp lý quan trọng để Nhà nước xử lý hành vi vi phạm pháp luật hình sự, bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân. Yêu cầu mới đặt ra đối với hoạt động TTHS không chỉ dừng lại ở việc xử lý tội phạm nghiêm minh mà còn đòi hỏi: (1) Bảo đảm tính dân chủ, công bằng và nhân văn trong quá trình tố tụng; (2) tăng cường tranh tụng và tính công khai, minh bạch; (3) nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực tư pháp; (4) bảo đảm quyền bào chữa, quyền tiếp cận công lý; (5) ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số toàn diện trong hoạt động tố tụng; (6) nâng cao hơn nữa hiệu quả phòng ngửa, thu hồi tài sản và xử lý tội phạm xuyên quốc gia[9].
Mục tiêu sửa đổi toàn diện BLTTHS nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, yêu cầu mới về cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và đấu tranh phòng, chống tội phạm; bảo vệ quyền con người, quyền công dân; kiểm soát quyền lực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Bảo đảm tố tụng dân chủ, công bằng, văn minh, nghiêm minh; lấy xét xử làm trung tâm, tranh tụng là đột phá; nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục rút gọn; đẩy mạnh chuyển đổi số, tố tụng điện tử và hợp tác quốc tế; phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và khơi thông nguồn lực phát triển, dựa trên các nguyên tắc nền tảng của pháp luật hiện đại: công bằng, công khai, minh bạch, hiệu quả, nhân văn…
Trong mục tiêu nói trên, vị trí, vai trò, việc bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của người bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp có ý nghĩa rất quan trọng. Quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa không chỉ là quyền Hiến định, mà còn là quyền tự do dân chủ trọng yếu trong các quyền tự do dân chủ của công dân, trở thành một nguyên tắc tố tụng căn bản phải được tôn trọng và triệt để thực hiện. Bộ Tư pháp khi kiểm điểm công tác bào chữa theo chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã nhấn mạnh xâm phạm đến quyền tự do bào chữa thì không thể nào thực hiện được các quyền tự do dân chủ khác, mặc nhiên thủ tiêu các quyền tự do đó. Nếu người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không được sử dụng đầy đủ quyền bào chữa thì không gọi là có công lý[10].
Từ chiến lược cải cách tư pháp và chiến lược phát triển nghề luật sư ở Việt Nam, cải cách tư pháp hình sự đang là một trong những nội dung quan trọng của cải cách tư pháp nhằm mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với các cơ quan tư pháp ngày càng cao, thông qua việc thực hiện chức năng xã hội của mình, đội ngũ luật sư phải thực sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc hỗ trợ, tư vấn về mặt pháp lý nhằm bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm pháp luật.
3.2. Một số kiến nghị cụ thể
Thứ nhất, về điều chỉnh kỹ thuật lập quy tại chương IV và chương V dự thảo BLTTHS (sửa đổi)
Hiện nay, cách thiết kế về địa vị pháp lý của người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố (trong đó luật sư là diện chủ thể chính yếu) là người tham gia tố tụng được quy định tại khoản 17, 18 và 19 Điều 59 chương IV dự thảo BLTTHS (sửa đổi). Khác với những người tham gia tố tụng khác đã được định nghĩa ngay tại Chương IV, riêng định nghĩa về người bào chữa lại được chuyển lên khoản 1 Điều 76 chương V Dự thảo là không hợp lý về mặt kỹ thuật lập quy.
Xét về bản chất thì chức năng gỡ tội tồn tại độc lập và đối trọng với chức năng buộc tội như một tất yếu khách quan tự thân của TTHS. Về nhận thức, cần xem xét địa vị pháp lý của luật sư là một chủ thể tư pháp có vị thế độc lập và bình đẳng về chức năng cơ bản của TTHS trong sự vận hành thống nhất của thể chế tư pháp. Trong điều kiện đất nước bước vào kỷ nguyên mới và yêu cầu của chiến lược cải cách tư pháp theo các nghị quyết của Đảng, đội ngũ luật sư đã được nhìn nhận có vai trò quan trọng trong quá trình tranh tụng và tư vấn pháp luật, là những người được đào tạo và hành nghề chuyên nghiệp dựa trên pháp luật và Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư. Trong xã hội, luật sư có sứ mệnh bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân, đảm bảo việc thực thi pháp luật được đúng đắn, bảo vệ công lý, góp phần phát triển kinh tế, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Có thể khẳng định, tiêu chuẩn của luật sư và giá trị của hoạt động nghề nghiệp luật sư không khác gì những người tiến hành tố tụng hoặc các chức danh tư pháp khác.
Do đó, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, tách các khoản 17, 18 và 19 Điều 59 chương IV dự thảo BLTTHS (sửa đổi) quy định về người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố sang chương V có tên chung là “bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự”.
Thứ hai, kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số điều luật cụ thể về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa, quyền và nghĩa vụ của người bào chữa
– Đề nghị bổ sung vào Điều 19 dự thảo BLTTHS (sửa đổi) nội dung sau: “Nghiêm cấm cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi cản trở hoạt động hành nghề của luật sư. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi cản trở hoạt động của người bào chữa phải chấm dứt ngay hành vi vi phạm và tùy theo tính chất, mức độ vi phạm bị xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”[11].
– Đề nghị sửa đổi, bổ sung quy định về quyền của người bào chữa tại Điều 77 của dự thảoBLTTHS (sửa đổi):
+ Điểm (a) khoản 1: “Gặp riêng[12], hỏi người bị buộc tội không bị hạn chế thời gian, số lần trong giờ làm việc trong các giai đoạn tố tụng, trừ trường hợp vụ án xâm phạm an ninh quốc gia; gặp người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự”.
+ Đề nghị bổ sung thêm 02 quyền mới của người bào chữa: (1) Được bảo đảm bí mật thông tin trao đổi giữa người bào chữa với người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, trừ trường hợp nghĩa vụ tố giác tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự[13]; (2) Tham gia trình tự tố tụng đặc biệt; chứng kiến và ký tên trong Biên bản thỏa thuận nhận tội, nhận hình phạt[14] và trình tự tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này;
Ngoài ra, cần tiếp tục nghiên cứu, cân nhắc về quyền được miễn trừ trách nhiệm hình sự, dân sự, hành chính đối với những phát ngôn thiện chí khi bào chữa bằng lời nói hoặc bằng văn bản trongquá trình hành nghề, phù hợp quy định của pháp luật, trừ trường hợp đưa ra ý kiến gây nguy hại đến an ninh quốc gia, cố ý vu khống người khác, cung cấp hồ sơ, tài liệu mang tính chất giả mạo hoặc gây rối nghiêm trọng nội quy phiên tòa[15];
– Đề nghị sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 82 dự thảo BLTTHS quy định về thủ tục đăng ký bào chữa: “Trong mọi trường hợp tham gia tố tụng, người bào chữa phải đăng ký bào chữa, được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cập nhật vào Sổ đăng ký bào chữa và thông báo cho cơ sở giam giữ. Việc đăng ký bào chữa theo phương thức trực tiếp hoặc phương thức gián tiếp thông qua hệ thống đăng ký điện tử của cơ quan tiến hành tố tụng; được kết nối cơ sở dữ liệu với cơ sở giam giữ và các cơ quan có liên quan”[16].
Thứ ba, kiến nghị bổ sung sự tham gia của người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong một số hoạt động và giai đoạn TTHS theo chính sách mới
– Như đã nêu tại mục 1.2, một số hoạt động của người bào chữa chưa được BLTTHS hiện hành quy định. Đề nghị nghiên cứu, bổ sung quy định về sự tham gia của người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự trong giai đoạn tố tụng điều tra đặc biệt (Chương XVII dự thảo); thủ tục thi hành án tử hình, xét tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích (Chương XXV dự thảo; xem xét lại bản án có hiệu lực pháp luật theo trình tự giám đốc thẩm(Chương XXVI dự thảo), tái thẩm (Chương XXVII dự thảo); thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Chương XXVIII dự thảo)…
– Đề nghị bổ sung trình tự, thủ tục để mở rộng phạm vi không khởi tố, phạm vi người có hành vi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự và thủ tục “tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự”nhằm thể chế hóa các chính sách mới. Tuy nhiên, đề nghị quy định rõ vai trò của người bào chữa (trong đó luật sư là chủ thể chính yếu) tham gia vào các trình tự, thủ tục này, vì nếu quy định rõ sẽ phát huy được vai trò của luật sư nhằm thực hiện chính sách nhân văn và tiến bộ nói trên.
Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) đã bổ sung thủ tục đối với trường hợp người phạm tội tự nguyện nhận tội, nhận hình phạt và nguyên tắc phân hóa xử lý khoan hồng trong TTHS, cần quy định về sự tham gia và có chữ ký của người bào chữa trong Biên bản nhận tội, nhận hình phạt là bắt buộc. Việc bổ sung quy định này là cơ chế giám sát thiết yếu nhằm bảo đảm tính tự nguyện, khách quan của lời nhận tội, nhận hình phạt của bị can, bị cáo, qua đó phòng ngừa và chống lại các hành vi bức cung, nhục hình, đồng thời nội luật hóa tinh thần của Công ước chống tra tấn (CAT) mà Việt Nam là thành viên.
Kết luận
Pháp luật trao quyền cho luật sư không chỉ giúp họ thực hiện chức năng, vai trò nghề nghiệp của họ đối với mỗi thân chủ, bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ, mà còn góp phần kiểm soát và giám sát quá trình tố tụng, hạn chế sai sót và vi phạm có thể xảy ra từ phía các cơ quan điều tra và xét xử. Thông qua việc thực hiện chức năng xã hội của mình, đội ngũ luật sư phải thực sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc hỗ trợ, tư vấn về mặt pháp lý nhằm bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm pháp luật. Để thực hiện được chức năng đó, việc hoàn thiện BLTTHS về vị trí, vai trò và sự tham gia của luật sư trong tố tụng hình sự là rất cần thiết./.
(Theo tapchitoaan.vn)

