Đoàn công tác LĐLSVN tham dự Hội nghị thường niên Hiệp hội Luật sư quốc tế IBA năm 2026 tại Copenhagen (Đan Mạch) Kỳ IV: Từ phòng họp Hội đồng quản trị doanh nghiệp, đến mối quan hệ giữa thẩm phán và luật sư

Khách sạn Copenhagen Island nơi Đoàn công tác VBF trú ngụ, có khá đông khách du lịch và một số luật sư đến từ các nước, chỉ mất khoảng 10 phút đi taxi là có thể đến Trung tâm Bella Center. Đã bước sang ngày thứ năm có mặt tại Đan Mạch, tôi cảm nhận nhịp sống của thủ đô Copenhagen vẫn trôi đi lặng lẽ thông qua hình ảnh những con đường đầy ắp người đạp xe đi làm. Với tư cách Trưởng đoàn, nếu nhìn vào lịch trình chuẩn bị từ nhà, có thể thấy áp lực của việc tham dự các chuyên đề nối từ sáng đến chiều, lại thêm một số chương trình lễ tân do Hiệp hội luật sư Anh và Xứ Wales, Liên hội luật sư Nhật Bản và Đoàn Luật sư Đan Mạch tổ chức, khiến cho nhiều thành viên của Đoàn khá mệt. Anh em trong Đoàn dặn nhau cố gắng giữ sức khỏe để theo kịp với tốc độ của chương trình Hội nghị, hy vọng cuối tuần có thể thăm thú một số danh lam thắng cảnh trước khi về nước.

Bàn về trách nhiệm hình sự trong phòng họp Hội đồng quản trị

Ngày 06/10/2026 gần như tập trung cho các phiên thảo luận do Hiệp hội luật sư và Hội Luật gia Đan Mạch, cùng Hiệp hội các Công ty luật Đan Mạch chủ trì bàn về vai trò của Greenland trong trật tự pháp lý quốc tế. Dường như những điều tôi hình dung và đề cập trong bài kỳ II là Greenland ngày càng giữ vị trí nổi bật trong các cuộc tranh luận toàn cầu về địa chính trị, tài nguyên thiên nhiên, biến đổi khí hậu và hợp tác quốc tế, các diễn biến pháp lý và chính trị đang định hình sự tham gia của hòn đảo này với các đối tác toàn cầu như thế nào. Đoàn công tác cũng đã tham gia chuyên đề về vai trò của các cơ quan quản lý pháp luật trong việc thúc đẩy, hỗ trợ và hiện thực hóa thượng tôn pháp luật trong bối cảnh phân cực ngày càng gia tăng và những bài học đau thương từ lịch sử. Điều này cho thấy, trên diễn đàn của IBA, giới luật quan tâm cả những vấn đề mang tính toàn cầu, bàn về khía cạnh pháp lý của các cuộc chiến tranh và luật sư là một thành tố không thể thiếu được trong quá trình đóng góp cho sự phát triển xã hội, góp phần hóa giải những xung đột về vũ lực thông qua đàm phán ngoại giao và kinh tế.

Một góc phố thủ đô Copenhagen trưa ngày 06/10/2026.

Một góc phố thủ đô Copenhagen trưa ngày 06/10/2026.

Đây cũng là thời điểm Quốc hội Việt Nam đang ở trong kỳ họp mới nhằm chuẩn bị thông qua các đạo luật quan trọng, liên quan nhiều đến thể chế luật sư và pháp luật về luật sư. Thông qua lịch sử 81 năm hình thành chế định luật sư cách mạng, từ chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước, Liên đoàn luật sư Việt Nam đã có nhiều đóng góp trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật, đặc biệt là dự thảo Luật Luật sư, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, với mong mong muốn nâng cao vị thế của đội ngũ luật sư Việt Nam trong lòng người dân, đạt được sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và các chủ thể xã hội.

Vì thế, như luật sư Ulrich Wessels (Chủ tịch Hiệp hội luật sư Liên bang Đức) phát biểu tại chuyên đề vào sáng 6/10/2026, ba sứ mệnh trụ cột mà Hiệp hội luật sư (BRAK) theo đuổi là bảo vệ quyền tự quản và sự độc lập của luật sư như một thiết chế cốt lõi của nền tư pháp, luật sư đã được công nhận là người đồng hành bảo vệ công lý, thực hiện chức năng hỗ trợ pháp lý và phụng sự nền pháp quyền. Ngay ở Liên bang Đức, từ kiến nghị của BRAK, Hiến pháp vừa được bổ sung Khoản 5 vào Điều 19: “Mọi người đều có quyền tìm kiếm sự hỗ trợ pháp lý độc lập của luật sư trước Tòa án cũng như trong các vụ việc ngoài Tòa án”. Đồng thời chuẩn hóa năng lực và đạo đức nghề nghiệp ngay từ vạch xuất phát, bởi lẽ quyền tự quản và vị thế độc lập chỉ có thể đứng vững khi đội ngũ luật sư giữ trọn niềm tin của xã hội về tính liêm chính và sự am tường quy tắc nghề nghiệp… Tôi nghĩ cách tiếp cận ở Việt Nam về vấn đề này cần được hiểu là tổ chức xã hội- nghề nghiệp luật sư hoàn toàn được độc lập thực hiện chức năng tự quản, trên cơ sở mối quan hệ mật thiết và không thể thiếu được vai trò quan trọng của các cơ quan quản lý Nhà nước, thể chế luật sư được đặt trong thể chế tư pháp thống nhất của nước nhà.

Các thành viên Đoàn công tác tham gia các chuyên đề ngày 06/10/2026.

Các thành viên Đoàn công tác tham gia các chuyên đề ngày 06/10/2026.

Bước sang ngày 07/10/2026, Đoàn công tác có cơ hội tiếp cận với nhiều chuyên đề sát sườn hơn với các luật sư tư vấn và tranh tụng. Trước hết, việc thảo luận nội bộ giữa luật sư khi tư vấn cho khách hàng như thế nào thường là câu chuyện trong “phòng họp”, không phải là câu chuyện được đưa ra bàn thảo công khai. Trong quá trình hoạt động, nhiều doanh nghiệp thường đứng trước những áp lực không chỉ từ những khó khăn về nguồn lực đầu tư, vướng mắc về pháp lý và thủ tục hành chính, mà còn đối diện với những rủi ro, thiệt hại trong kinh doanh, thậm chí vướng vào nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu để xảy ra sai phạm pháp luật. Phiên thảo thảo luận chuyên đề “Luật hình sự trong phòng họp Hội đồng quản trị (HĐQT)” là một cách nói khác về trách nhiệm hình sự của cấp điều hành, thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT) doanh nghiệp đã thu hút sự quan tâm của nhiều luật sư.

Các diễn giả gồm Luật sư Jason Linder đến từ Hãng luật Mayer Brown (Mỹ), Simone Nadelhofer (Hãng luật LALIVE, Zurich, Thụy Sĩ), Constantin Lauterwein (Văn phòng luật Gleiss Lutz CHLB Đức), Abhijit Mukhopadhyay (Chủ tịch phụ trách Pháp chế tại Tập đoàn đa quốc gia Hinduja Group (trụ sở tại London, Anh), Andrea Puccio(Công ty luật Puccio Penalisti Associati (Milan, Ý), Douglas Zolkind (Hãng luật Debevoise & Plimpton (New York, Mỹ). Họ đã kể lại nhiều câu chuyện thực tiễn về một số vụ án gian lận đấu thầu và hợp đồng công của công ty xây dựng tại Mỹ, thảm họa môi trường, tai nạn công nghiệp hay bê bối tài chính tại Đức, rửa tiền hay tham nhũng tại Thụy Sĩ, gian lận trong kinh doanh tại Ấn Độ, cho thấy những rủi ro từ sai phạm của cấp quản lý sẽ nhanh chóng bị chuyển hóa thành cuộc điều tra hình sự nếu không có sự tư vấn kịp thời của luật sư.

Cơ quan công tố Hoa Kỳ (DOJ) đã áp dụng triệt để quan điểm quy trách nhiệm cá nhân, buộc những người ra quyết định cấp cao trong doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm hình sự trực tiếp thay vì chỉ xử phạt hành chính đối với pháp nhân. Vụ án được nêu phơi bày lỗ hổng rất lớn khi Ban điều hành Tập đoàn thiếu vắng cơ chế kiểm soát độc lập, để mặc cho các hành vi thông thầu, gian lận chứng từ diễn ra nhằm trục lợi hợp đồng Chính phủ. Sự thờ ơ hoặc thiếu giám sát đối với các quy trình tuân thủ đấu thầu bị coi là hành vi dung túng cho tội phạm kinh tế khi doanh nghiệp không thiết lập được hệ thống kiểm toán nội bộ thực chất để rà soát mọi giao dịch, bởi đó là phòng tuyến duy nhất ngăn chặn nguy cơ vướng vào vòng lao lý cho các cá nhân trong ban điều hành doanh nghiệp.

Trong thực tiễn xét xử của Liên bang Đức, liên quan đến nghĩa vụ giám sát của HĐQT/Ban kiểm soát và rủi ro hình sự/trách nhiệm cá nhân khi thờ ơ trước các cảnh báo sai phạm, có hai án lệ mang tính nền tảng (Án lệ Siemens/Neubürger của Tòa án Munich, 2013) và Án lệ ARAG/Garmenbeck (Phán quyết của Tòa án Tối cao Liên bang Đức – BGH, 1997). Kinh nghiệm mà Luật sư Abhijit Mukhopadhyay đến từ Ấn Độ cho thấy, trong Đạo luật Công ty, tội “Gian lận” được định nghĩa cực kỳ rộng và gắn liền với các khung hình phạt tù bắt buộc, không thể bảo lãnh. Khi một thảm họa môi trường, tai nạn công nghiệp hay bê bối tài chính nổ ra, cơ quan điều tra gian lận nghiêm trọng (SFIO) thường lập tức triệu tập và khởi tố toàn bộ HĐQT. Cơ quan công tố Ấn Độ lập luận rằng nếu biên bản họp HĐQT cho thấy các cảnh báo đỏ (red flags) đã được nêu ra mà giám đốc không phản đối, sự im lặng đó đồng nghĩa với việc “có biết và đồng thuận ngầm”.

Bà Simone Nadelhofer cho rằng, trong bối cảnh pháp lý và rủi ro hình sự tại Thụy Sĩ, HĐQT nắm giữ các thẩm quyền tối cao và không thể ủy quyền theo Bộ luật Nghĩa vụ Thụy Sĩ, bao gồm việc thiết lập cơ cấu tổ chức và kiểm soát tài chính. Dù các thành viên HĐQT không điều hành, không can thiệp vào vận hành hàng ngày, luật Thụy Sĩ không chấp nhận việc lãnh đạo hoàn toàn khoán trắng trách nhiệm cho Ban giám đốc điều hành. Theo Bộ luật Hình sự Thụy Sĩ, doanh nghiệp bị truy cứu trách nhiệm hình sự độc lập đối với các tội danh rửa tiền hoặc tham nhũng nếu thiếu sót các biện pháp tổ chức cần thiết để phòng ngừa. Ranh giới giữa một quyết định kinh doanh sai lầm được pháp luật bảo vệ và một hành vi cẩu thả mang tính hình sự phụ thuộc hoàn toàn vào mức độ quyết liệt xử lý cảnh báo của HĐQT.

Luật sư Phan Minh Hoàng chia sẻ thông tin và nêu câu hỏi với các diễn giả sáng 07/10/2026.

Luật sư Phan Minh Hoàng chia sẻ thông tin và nêu câu hỏi với các diễn giả sáng 07/10/2026.

Vì vậy, trong phòng họp HĐQT của nhiều doanh nghiệp Thụy Sĩ, việc chủ động ghi nhận các ý kiến chất vấn, yêu cầu kiểm tra nội bộ và lưu vết hồ sơ xử lý rủi ro chính là chứng cứ sống còn để bảo vệ bản thân trước nguy cơ lao lý. Điều này liên quan trực tiếp đến việc phân bổ trách nhiệm pháp lý giữa Ban điều hành và các cơ quan quản trị nội bộ của công ty. Cần xác định ranh giới mà các thành viên HĐQT có thể ủy quyền và tin cậy vào ban điều hành, cũng như các biện pháp cần thiết mà HĐQT phải thực hiện để bảo đảm tính độc lập của các quyết sách.

Nhân các diễn giả nêu vấn đề về cơ chế thỏa thuận nhận tội theo Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) của nhiều nước, luật sư Phan Minh Hoàng đã chia sẻ thông tin trong quá trình xây dựng dự thảo các dự án Luật mới, Việt Nam đã đưa ra nhiều chính sách hình sự và tố tụng hình sự mới, được thể hiện trong các dự thảo Luật về cơ chế nhận tội, nhận hình phạt, tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời đặt câu hỏi: Khi một nhà đầu tư nước ngoài có nguy cơ đối diện với một cuộc điều tra sai phạm kinh tế, các thành viên HĐQT cần chuẩn bị gì để chứng minh sự vô can và tránh rủi ro nếu bị khởi tố?

​Theo các diễn giả, các thành viên HĐQT phải lập tức xuất trình biên bản các cuộc họp thể hiện sự phân định quyền hạn minh bạch giữa HĐQT và ban điều hành tại chi nhánh/công ty con ở nước ngoài, chứng minh mình không chỉ đạo hay tham gia tác nghiệp giao dịch sai phạm. HĐQT cần chứng minh doanh nghiệp đã ban hành và phổ biến quy chế tuân thủ nội bộ bắt buộc, đồng thời lưu vết hồ sơ chất vấn hoặc ý kiến phản đối ngay khi các cảnh báo rủi ro đầu tiên xuất hiện. Cần chủ động chỉ định luật sư độc lập tiến hành kiểm toán nội bộ và niêm phong toàn bộ dữ liệu báo cáo từ nước ngoài gửi về tổng hành dinh để khẳng định ban điều hành địa phương đã cố ý qua mặt hoặc cung cấp thông tin sai lệch cho HĐQT. Việc hợp tác giải trình sớm kèm tài liệu chứng minh đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ để tránh bị quy kết lỗi cố ý gián tiếp hoặc đồng phạm. HĐQT tuyệt đối không viện dẫn sự bất đồng ngôn ngữ hay khoảng cách địa lý để thoái thác trách nhiệm, vì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ chỉ đánh giá tính thực chất của các biện pháp kiểm soát mà HĐQT đã kích hoạt khi phát hiện dấu hiệu bất thường.

Giải mã chuẩn mực ứng xử trong quan hệ giữa Thẩm phán và Luật sư

Tên gọi của chuyên đề gợi mở sự tò mò, đó là: “Thân mật” với đối thủ, các luật sư và thẩm phán hỗ trợ hay cản trở việc thực thi công lý như thế nào khi tương tác tại tòa? Chủ đề này nhấn mạnh cách thức tương tác giữa luật sư và thẩm phán tại Tòa án có thể hỗ trợ hoặc làm suy yếu quá trình thực thi công lý, đề cập các ranh giới nghề nghiệp, các vấn đề đạo đức và động lực tương tác tại phòng xử án, cũng như tác động của chúng đối với sự công bằng, cách nhìn nhận của công chúng và kết quả xét xử. Phiên thảo luận được điều hành bởi các Thẩm phán tối cao, Hội đồng tranh tụng, Bộ Tư pháp đến từ Ai-len, Italia, Pháp, Ấn Độ và Malaysia. Mặc dù họ không thể đại diện cho mọi hệ thống tài phán, nhưng sẵn sàng chia sẻ về động lực phòng xử án cũng như mối quan hệ tương tác giữa luật sư tranh tụng và thẩm phán.

​Về mặt nguyên tắc, trong cấu trúc tố tụng đối tụng, mối quan hệ giữa luật sư hai phía và thẩm phán được xây dựng trên nền tảng tôn trọng song phương. Giới luật sư luôn dành sự tôn trọng cho Hội đồng xét xử; ngược lại, các thẩm phán phần lớn đều lắng nghe một cách chuẩn mực và đưa ra phán quyết, dù là tuyên án ngay tại phiên tòa hay nghị án và ban hành bản án sau đó. Nhìn chung, đây là mối quan hệ hòa nhã, đúng mực.​Dù thẩm phán và luật sư thường không kết giao quá thân mật và các thẩm phán luôn giữ khoảng cách chừng mực thay vì “ngồi trên tháp ngà” như trước đây mà đã cởi mở hơn trong việc tham dự các sự kiện pháp lý và thảo luận thẳng thắn tại các hội thảo bàn tròn.

​Dẫu vậy, vẫn tồn tại sự bất đối xứng về mặt quyền lực giữa giới luật sư (the Bar) và giới thẩm phán/Hội đồng xét xử (the Bench). Đơn cử như tại Hoa Kỳ, nơi không áp dụng mô hình “thẩm phán chuyên nghiệp ngạch bậc” (career judiciary), phần lớn thẩm phán từng là luật sư thực hành suốt nhiều thập kỷ trước khi ngồi vào ghế xét xử. Từng đứng ở vị trí đối diện, họ thấu hiểu cảm giác tranh tụng trước tòa. Đôi khi thẩm phán có phần thiếu kiên nhẫn, song họ thường xuyên phải chịu áp lực quá tải từ thụ lý và sổ sách thụ lý án dày đặc với hàng loạt vụ án phải giải quyết mỗi ngày. Luật sư có thể xem vụ việc của mình là quan trọng nhất, nhưng tố tụng thực chất là quá trình hợp tác: Thẩm phán dựa vào các lập luận và bản đệ trình của luật sư để có thể đưa ra phán quyết chính xác, chứ không phải để tạo ra sự xung đột. Sau cùng, dù luật sư và thẩm phán đảm nhiệm các vai trò tố tụng khác nhau, cả hai bên đều hướng tới cùng một mục tiêu là thực thi công lý. Bất kể thẩm quyền sâu rộng và tính độc lập tư pháp theo hiến định, ngay cả trong những vụ án hình sự hay chính trị căng thẳng nhất, mối quan hệ này vẫn luôn giữ vững chuẩn mực cốt lõi: Tôn trọng lẫn nhau từ một khoảng cách nghề nghiệp thích hợp, không can thiệp sâu nhưng cũng không thân mật quá mức.

Luật sư Erin Valentine (Hoa Kỳ) nhìn nhận mối quan hệ này từ bình diện rộng hơn. Tại Hoa Kỳ, đặc biệt là qua các hoạt động tại Đoàn Luật sư Bang New York, bà dành rất nhiều nỗ lực để gắn kết mối quan hệ giữa giới thẩm phán và giới luật sư, thông qua việc tổ chức các hội nghị chung nơi các thẩm phán đồng hành cùng luật sư tranh tụng, tham gia các kỳ nghỉ dưỡng nghiệp vụ, có thể dùng bữa tối cùng nhau và con cái của họ thậm chí còn chơi đùa thân thiết. Tình hình sẽ phức tạp và nhạy cảm hơn khi luật sư xuất hiện trước vị thẩm phán đó tại phiên tòa. Nền tảng mối quan hệ này thực chất nhằm mở rộng đối thoại và nâng tầm chất lượng trao đổi chuyên môn và Hội đồng xét xử thấu hiểu sâu sắc hơn những áp lực mà luật sư phải trải qua và ngược lại. Điều đó nâng cao sự tin cậy và cách hai bên nhìn nhận lẫn nhau. Tại Hoa Kỳ, các quy tắc công khai/minh bạch thông tin được tuân thủ rất nghiêm ngặt, rất hiếm khi có chuyện thẩm phán ra phán quyết bất lợi chỉ vì tư thù cá nhân.

Diễn giả đến từ Pháp và Italia lại nhấn mạnh đến việc công chúng và các bên nhìn nhận về tính thiên vị là yếu tố then chốt. Sự hoài nghi có thể nảy sinh ngay trong phần tranh tụng miệng khi một thẩm phán đặt câu hỏi chất vấn gay gắt, một bên có thể cảm giác thẩm phán chỉ nghiên cứu hồ sơ đứng về phía đối tụng, dù thực chất thẩm phán đang kiểm tra tính xác thực của lập luận một cách hoàn toàn vô tư. Trong thực tiễn xét xử, hiệu quả của phần tranh tụng miệng có tác động nhất định: Luật sư đó có sắc sảo, trình bày có thuyết phục hay không hay bản thân thẩm phán này giàu lòng thấu cảm hơn thẩm phán khác? Đó là bản tính con người chứ không phải là căn cứ xác lập định kiến hay sai phạm.

Quang cảnh phiên chuyên đề vào trưa này 07/10/2026.

Quang cảnh phiên chuyên đề vào trưa này 07/10/2026.

Hơn nữa, thiết chế tư pháp giữa hai hệ thống hoàn toàn khác biệt. Tại các quốc gia theo chế độ luật thành văn, thẩm phán theo ngạch bậc chuyên nghiệp, được tuyển dụng qua thi tuyển công chức tư pháp hoặc được bổ nhiệm bởi Tổng thống Cộng hòa, chứ không qua tranh cử hay chuyển ngang từ giới luật sư thực hành. Vì vậy, dù các cuộc thảo luận chuyên môn giữa luật sư và thẩm phán vẫn có thể diễn ra, nhưng việc gặp gỡ thân mật kiểu “ngồi cà phê” lại mang sắc thái đạo đức nghề nghiệp và chuẩn mực tố tụng hoàn toàn khác biệt so với mô hình của Hoa Kỳ.

Tình huống đặt ra là nếu trường hợp luật sư bị thẩm phán bêu riếu, nói nặng với luật sư trước mặt khách hàng, ở Anh quốc không có cơ chế để thẩm phán chịu trách nhiệm, còn ở các nước như thế nào? Thẩm phán Liam Kennedy (Ireland) cho rằng giữa Ireland và Anh có cùng truyền thống Thông luật, nhưng việc nói “không có cơ chế nào” là chưa hoàn toàn chính xác về mặt thủ tục. Tại Ireland, Đạo luật Hội đồng Tư pháp 2019 đã lập ra Ủy ban Ứng xử Tư pháp (Judicial Conduct Committee) để tiếp nhận khiếu nại của luật sư về thái độ thiếu chuẩn mực của thẩm phán mà không làm tổn hại đến tính độc lập xét xử. Tương tự, tại Anh và xứ Wales cũng có Cơ quan khiếu nại tư pháp (JCIO – Judicial Conduct Investigations Office). Nếu Thẩm phán có thái độ miệt thị làm suy yếu tính công bằng của phiên xử, luật sư có quyền đưa việc này thành căn cứ kháng cáo với lý do “dấu hiệu thiên kiến hiển nhiên” hoặc vi phạm quyền được xét xử công bằng. Luật sư cần ghi nhận từng câu chữ vào biên bản phiên tòa, giữ bình tĩnh tối đa và yêu cầu đưa những lời nhận xét đó vào hồ sơ tố tụng thay vì đối đầu tay đôi tại phòng xử.

Luật sư Erin Valentine cho biết tại Hoa Kỳ có các Ủy ban Ứng xử Tư pháp độc lập và quyền ghi âm/ghi hình công khai phiên tòa. Hội đồng Giám sát Ứng xử Tư pháp (Judicial Conduct Commissions) được thành lập tại cả cấp liên bang và từng tiểu bang, theo đó luật sư có thể nộp đơn khiếu nại đạo đức ẩn danh hoặc chính thức lên Ủy ban Kỷ luật Tư pháp nếu thẩm phán có hành vi vi phạm Bộ Quy tắc Ứng xử Tư pháp. Quy tắc 2.8 yêu cầu thẩm phán phải kiên nhẫn, tôn trọng và lịch thiệp với tất cả các bên. Ngoài ra, phiên tòa tại Mỹ được ghi chép từng từ bởi thư ký tốc ký. Trong trường hợp bị ứng xử không đúng từ thẩm phán, luật sư Mỹ thường phản ứng ngay bằng cách yêu cầu Thẩm phán ghi nhận ngay sự kiện này vào trong biên bản phiên tòa. Bà nói, để bảo vệ niềm tin của khách hàng, sau phiên xử, luật sư phải có buổi làm việc riêng với thân chủ để giải thích thái độ gay gắt của thẩm phán có thể là chiến thuật thử thách lập luận hoặc áp lực từ lịch xét xử quá tải, chứ không phản ánh năng lực hay lỗi của luật sư.

Tuy nhiên, Thẩm phán Fabienne Schaller (Pháp) và Giáo sư Fausto Pocar (Italia)cho rằng, tại Châu Âu lục địa, hội đồng xét xử mang tính tập thể, quyền lực không tập trung vào một cá nhân duy nhất và thẩm phán là công chức chịu kỷ luật ngặt nghèo. Trong phần lớn các vụ án phức tạp tại Pháp và Italia, hội đồng xét xử gồm 3 thẩm phán, nên một thẩm phán không thể tùy tiện lấn lướt hay bêu rếu luật sư vì có sự kiềm chế chéo từ các đồng nghiệp ngồi cạnh. Thẩm phán của các quốc gia này là ngạch công chức tư pháp chịu sự điều chỉnh của các quy chuẩn kỷ luật rất khắt khe. Nếu thẩm phán có hành vi xúc phạm luật sư, Đoàn luật sư sẽ đứng ra can thiệp chính thức theo cách thức: Chủ nhiệm Đoàn luật sư sẽ gửi công văn trực tiếp tới Chánh án Tòa án để bảo vệ thành viên của mình. Đây là cuộc đối thoại mang tính tổ chức chứ không để luật sư đơn độc đối đầu thẩm phán.

Thẩm phán Nallini Pathmanathan (Malaysia) cho rằng thẩm phán nắm quyền tài phán trừng phạt hành vi xúc phạm tòa án, nhưng luật sư có lá chắn từ Hiệp hội Luật sư độc lập. Tại Malaysia hay Singapore, ranh giới giữa thẩm phán bực bội và luật sư bị lăng mạ rất dễ dẫn đến nguy cơ thẩm phán đe dọa xử phạt tội “coi thường tòa án”. Do đó, sự bảo vệ tập thể từ Hiệp hội Luật sư là cực kỳ quan trọng. Luật sư có thể chuyển sự việc cho Đoàn luật sư để cơ quan này làm việc chính thức với Chánh án Tòa án Tối cao. Bộ Quy tắc Đạo đức Thẩm phán của Khối Thịnh vượng chung đều nghiêm cấm thẩm phán làm nhục người hành nghề luật, bởi vì hạ thấp uy tín của luật sư trước mặt thân chủ chính là làm xói mòn niềm tin của người dân vào toàn bộ hệ thống công lý.

Các thành viên Đoàn công tác theo dõi phiên thảo luận vào trưa ngày 07/10/2026.

Các thành viên Đoàn công tác theo dõi phiên thảo luận vào trưa ngày 07/10/2026.

Luật sư Pallavi Shroff nêu thực tế ở nền tư pháp quá tải như Ấn Độ, việc thẩm phán mất kiên nhẫn diễn ra hàng ngày, và bản lĩnh của luật sư là “chìa khóa“ và cần tách bạch cảm xúc cá nhân khỏi quyền lợi thân chủ. Với hàng triệu vụ án tồn đọng, các thẩm phán Ấn Độ chịu áp lực khủng khiếp và đôi khi ngắt lời, chỉ trích luật sư gay gắt để đẩy nhanh tiến độ. Ông nói nếu một thẩm phán có thói quen xúc phạm người hành nghề có hệ thống, các Hiệp hội luật sư tại Ấn Độ không ngần ngại thông qua nghị quyết phản đối hoặc thậm chí tẩy chay phòng xét xử của vị thẩm phán đó cho đến khi có sự can thiệp từ Chánh án.

Ở Argentina và khu vực Mỹ Latinh, quan điểm của diễn giả là chúng ta phải cùng nhau hợp tác để bảo vệ hệ thống tư pháp, bởi nếu thẩm phán và luật sư không đứng ra bảo vệ, sẽ chẳng có ai làm điều đó. Kinh nghiệm thực chiến của một luật sư tranh tụng sẽ tạo nên sự chuyển biến to lớn khi giải quyết các tranh chấp thương mại phức tạp với sự thấu hiểu thực tế hành nghề. Thẩm phán giữ khoảng cách gần gũi với giới luật sư giúp việc xét xử đạt chất lượng hoàn toàn khác biệt. Sự hội tụ và giao thoa kinh nghiệm là điều vô cùng tích cực cho cả giới luật sư lẫn giới thẩm phán.

Nước Pháp hiện này có hơn 10.000 thẩm phán và hơn 70,000 luật sư, họ đều được đào tạo nền tảng rất bài bản tại trường đại học, sau đó trải qua các trường đào tạo nghề riêng biệt (Trường Thẩm phán Quốc gia ENM cho thẩm phán và các trung tâm đào tạo luật sư). Do đó, vấn đề không nằm ở đào tạo ban đầu, mà là đào tạo liên tục và cơ chế luân chuyển ngạch nghề nghiệp. Hiện tượng thẩm phán có thái độ bắt nạt, thóa mạ luật sư có thể ở quốc gia nào cũng có, nhưng nên xây dựng cơ chế xử lý xung đột tức thì (Fast-track dispute resolution), thay vì gửi văn thư khiếu nại hành chính chính thức lên Chánh án Tòa án và phải chờ hàng tuần không có hồi đáp. Đại diện Đoàn luật sư và Thẩm phán phụ trách sẽ gặp mặt trực tiếp để giải quyết ngay vụ việc trong vòng vài ngày.

Copenhagen về đêm dưới tiết trời giá lạnh…

Copenhagen về đêm dưới tiết trời giá lạnh…

Các diễn giả chia sẻ giải pháp quan trọng nhất cần được kiên trì thực hiện, đó là nền công lý không thể vận hành nếu thiếu sự hợp tác từ giới luật sư. Hai bên phải tìm kiếm tiếng nói chung thay vì đẩy lên thành xung đột tố tụng. Việc luật sư và thẩm phán cùng tham gia các hội nghị chuyên môn giúp xóa bỏ định kiến về một tòa án ngồi trên tháp ngà độc đoán. Thẩm phán chủ động bước ra đối thoại không hề làm suy giảm tính công bằng, mà trái lại, càng củng cố tính độc lập tư pháp và niềm tin của công chúng.

LS. TS PHAN TRUNG HOÀI
Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam