Liên đoàn Luật sư Việt Nam tiếp tục đóng góp ý kiến xây dựng BLTTHS (sửa đổi)

Liên đoàn Luật sư Việt Nam vừa có Văn bản số 463/LĐLSVN ngày 21/9 về việc tiếp tục góp ý dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) (sửa đổi) bản cập nhật 18/8/2026.

Theo Văn bản số 463/LĐLSVN, thời gian qua, Liên đoàn Luật sư Việt Nam (LĐLSVN) đã có các Văn bản số 259/LĐLSVN ngày 05/6/2026, số 305/LĐLSVN ngày 01/7/2026, số 325/LĐLSVN ngày 06/7/2026 và số 337/LĐLSVN ngày 15/7/2026 gửi Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội kèm theo các Phụ lục góp ý chương I, chương IV và chương V dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Qua nghiên cứu dự thảo BLTTHS (sửa đổi) trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan chủ trì soạn thảo là Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao đã có tiếp thu ở mức độ nhất định một số góp ý của LĐLSVN.

Theo đánh giá của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội[1], Dự thảo BLTTHS đã thể chế hóa các chính sách mới trong các Nghị quyết của Đảng, có sự kết nối với chính sách Bộ luật hình sự, dựa trên cơ sở thực tiễn thi hành, đánh giá các kết quả đạt được, nguyên nhân một số bất cập, vướng mắc trong quá trình thực thi BLTTHS 2015, đặt ra nhiều vấn đề mới nhằm sửa đổi toàn diện BLTTHS hiện hành. Kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nhấn mạnh cần tiếp thu ý kiến của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu trong Thông báo số 01- TB/BCĐTW ngày 06/7/2026 là: “Việc sửa đổi BLTTHS cần được thực hiện đồng bộ với quá trình nghiên cứu, sửa đổi Bộ luật Hình sự và các luật liên quan, đặt trong tổng thể yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, cải cách tư pháp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và khơi thông nguồn lực phát triển. Không tiếp cận sửa đổi BLTTHS chỉ như sửa đổi một số thủ tục mang tính kỹ thuật, mà phải hoàn thiện dựa trên các nguyên tắc nền tảng của pháp luật hiện đại. Công bằng, công khai, minh bạch, hiệu quả, nhân văn”.

Trên cơ sở Dự thảo BLTTHS (bản cập nhật ngày 18/8/2026 sau khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội kết luận), tổng hợp ý kiến đóng góp của các Đoàn Luật sư, nhiều luật sư thành viên, nay Liên đoàn Luật sư Việt Nam tiếp tục nêu một số ý kiến với mong muốn nhằm tháo gỡ một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình luật sư tham gia các vụ án hình sự, từ đó đề xuất một số kiến nghị cụ thể để cơ quan chủ trì soạn thảo và cơ quan thẩm định xem xét trước khi trình Quốc hội thảo luận và biểu quyết thông qua.

1. Một số ý kiến về kết quả, vướng mắc, khó khăn trong pháp luật thực định và thi hành liên quan đến vai trò và sự tham gia của luật sư trong TTHS

1.1. Kể từ khi BLTTHS năm 2015, có hiệu lực từ năm 2017 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024 và 2025) đến nay, diện mạo đời sống tố tụng ở Việt Nam đã có những bước chuyển rất quan trọng, có được khuôn khổ pháp lý tạo nền tảng cho các chủ thể thực hiện các chức năng cơ bản của TTHS là chức năng buộc tội, chức năng gỡ tội và chức năng xét xử. Đây là một trong những đạo luật tố tụng cơ bản của nước ta, liên quan mật thiết đến các vấn đề đặc biệt quan trọng như sự vận hành của thể chế tư pháp và tố tụng, tác động trực tiếp đến hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Trong bối cảnh đất nước đang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tình hình tội phạm vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp. Trước thực tiễn nêu trên, các cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) ở Trung ương và địa phương đã nỗ lực rất lớn nhằm nâng cao chất lượng hoạt động điều tra, truy tố và xét xử, bảo đảm việc giải quyết các vụ án được thực hiện đúng trình tự, thủ tục pháp luật, khách quan, toàn diện và đúng thẩm quyền. Nhiều bản án, quyết định của Tòa án trong thời gian qua được ban hành trên cơ sở quá trình tố tụng chặt chẽ, có sự tham gia của các chủ thể tố tụng theo quy định của pháp luật, trong đó có người bào chữa cho người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự. Quá trình giải quyết các vụ án hình sự không chỉ nhằm xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật mà còn góp phần làm rõ các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, từ đó phục vụ công tác phòng ngừa, hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật, cũng như tăng cường bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp.

Có thể khẳng định, với việc ghi nhận quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa là quyền Hiến định, phù hợp với các Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế mà Việt Nam là thành viên, quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về luật sư, cũng như bảo đảm quyền bào chữa đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm đúng mức thông qua việc ban hành các Nghị quyết của Đảng và các Bộ luật, Luật, Thông tư hướng dẫn của Bộ Công an, Bộ Tư pháp và liên ngành tư pháp Trung ương. Vị trí, vai trò và chức năng xã hội của đội ngũ luật sư Việt Nam[2] đã có bước chuyển mạnh mẽ, tạo được chỗ đứng trong xã hội, có được sự tin cậy nhất định từ phía các thiết chế quyền lực, quản lý, các chủ thể xã hội và công dân.

Trong một chừng mực nhất định, hoạt động hành nghề luật sư đã góp một phần quan trọng trong cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, có vai trò ngày càng đậm nét trong quá trình dân chủ hóa hoạt động tố tụng, góp phần bảo vệ công lý, sự thật khách quan của các vụ án, bảo vệ lợi ích Nhà nước, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể xã hội. Nhiều luật sư đã tham gia từ giai đoạn điều tra, nghiên cứu hồ sơ, thu thập tài liệu, tham gia tranh tụng tại phiên tòa, qua đó góp phần nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng và góp phần vào quá trình hình thành phán quyết của Tòa án dựa trên quy định của pháp luật. Trong nhiều vụ án, ý kiến của luật sư bào chữa đã được Hội đồng xét xử xem xét, ghi nhận trong quá trình nghị án và ban hành bản án, quyết định theo quy định của pháp luật. Việc tôn trọng và xem xét các ý kiến tranh tụng tại phiên tòa cho thấy nguyên tắc tranh tụng trong xét xử ngày càng được quan tâm bảo đảm trong thực tiễn, qua đó góp phần nâng cao chất lượng hoạt động xét xử và củng cố niềm tin của nhân dân đối với hoạt động tư pháp.

1.2. Tuy nhiên, sau hơn 8 năm triển khai thực hiện, bên cạnh những kết quả tích cực nêu trên, thực tiễn cho thấy còn có nhiều vướng mắc, bất cập, một số quy định trong BLTTHS không còn phù hợp hoặc chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu mới của cải cách tư pháp…, trong đó nổi lên các vấn đề liên quan đến xác định vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ của luật sư tham gia bào chữa cho bị can, bị cáo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự:

Theo báo cáo của các cơ quan tiến hành tố tụng, từ năm 2007 đến tháng 9/2025, số luật sư tham gia trong giai đoạn điều tra là 183.180/1.326.377 vụ án (đạt 13,81%). Trong giai đoạn tố tụng tại Tòa án, tỉ lệ luật sư tham gia tố tụng cao nhất ở giai đoạn xét xử phúc thẩm với 117.399/527.374 vụ án có luật sư tham gia (đạt 22,26%); giai đoạn xét xử sơ thẩm với 406.778/5.026.403 vụ án có luật sư tham gia (đạt 8,1%); giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm có 169/14.979 vụ án có luật sư tham gia (đạt 1,12%)[3], trong khi gần như 100% các luật sư tham gia đầy đủ và tích cực các vụ án yêu cầu chỉ định.

Nguyên nhân tỉ lệ luật sư tham gia TTHS còn thấp, bên cạnh số liệu thống kê có thể chưa thống nhất do chưa có sự kết nối cơ sở dữ liệu dùng chung của các cơ quan THTT, có một phần xuất phát là do một số quy định của BLTTHS hiện hành chưa thật sự tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn trong quá trình tham gia TTHS của luật sư. Bên cạnh nhận thức của một số cơ quan và người tiến hành tố tụng chưa đầy đủ về vị trí, vai trò của luật sư là một chủ thể quan trọng thực hiện chức năng cơ bản của TTHS là chức năng gỡ tội, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận là chất lượng tham gia tố tụng của luật sư còn có những mặt hạn chế.

Qua thực tiễn thi hành BLTTHS, một số quy định trong BLTTHS hiện hành chưa phản ánh và thể hiện được đầy đủ vị trí, vai trò của luật sư tham gia TTHS với tư cách là người bào chữa cho người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự, thể hiện ở một số điểm cụ thể như sau:

– Về địa vị pháp lý của người bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Liên quan đến địa vị pháp lý là người tham gia tố tụng, tư cách tham gia tố tụng của người bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự chưa thật sự bình đẳng với người THTT, là quyền năng phái sinh của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, các đương sự, phụ thuộc vào sự chấp thuận hay không của các cơ quan và người THTT thông qua thủ tục hành chính là thủ tục đăng ký bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

– Về diện chủ thể người bào chữa: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 BLTTHS, người bào chữa có thể là: (a) Luật sư; (b) Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; và (c) Bào chữa viên nhân dân. Tuy nhiên, diện chủ thể người bào chữa hiện nay quá rộng, chưa thật sự tạo điều kiện cho việc hình thành đội ngũ luật sư chuyên nghiệp, một số đối tượng chưa quy định tiêu chuẩn, điều kiện đáp ứng yêu cầu của việc tham gia bào chữa, hiệu quả tham gia tố tụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo còn hạn chế[4].

– Về thủ tục cấp Thông báo về việc đăng ký bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Mặc dù Điều 27 Luật Luật sư và Thông tư 46/2019/TT-BCA ngày 10/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định rất chi tiết các thủ tục cần thiết,, nhưng thực tế phần lớn thời hạn cấp Thông báo đăng ký bào chữa không được bảo đảm trong thời hạn 24 giờ. Vấn đề về hiệu lực giá trị Thông báo đăng ký bào chữa qua các giai đoạn TTHS, thủ tục cấp và thu hồi Thông báo đăng ký người bảo vệ quyền lợi cho đương sự trong TTHS cũng chưa được làm rõ, bị chế ước bởi nhiều thủ tục phái sinh[5].

– Về sự tham gia tố tụng của luật sư trong giai đoạn điều tra: Theo quy định tại Điểm (a), (b), (c) và (d) Khoản 1 Điều 73 BLTTHS, người bào chữa có quyền gặp, hỏi người bị buộc tội; có mặt khi lấy lời khai người bị tạm giữ và khi hỏi cung bị can, được phép đặt câu hỏi với bị can nếu được sự đồng ý của điều tra viên; có quyền đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian, địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can… Tuy nhiên, việc tham gia tố tụng của luật sư trong giai đoạn điều tra thực tế còn gặp nhiều vướng mắc, khó khăn.

BLTTHS chưa quy định rõ cách thức thông báo, giải thích quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa[6], chưa tạo điều kiện giải quyết cho Luật sư vào gặp theo đề nghị để hỏi lý do bị can bị tạm giam từ chối theo quy định tại Khoản 3 Điều 77 BLTTHS; không có quy định cho phép người bào chữa được tiếp xúc riêng và nội dung thông tin trao đổi với người bị tạm giữ, bị can trong Trại tạm giam trong giai đoạn điều tra (trừ các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia) được bảo mật. Chưa có quy định thống nhất về giá trị pháp lý sự hiện diện và chữ ký của luật sư trên các biên bản hỏi cung người bị tạm giữ, bị can là bắt buộc[7]. BLTTHS chưa quy định cụ thể về thể thức thu thập chứng cứ của luật sư, cũng như cơ chế bảo đảm cho việc các cơ quan có liên quan hỗ trợ, cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của luật sư, cơ chế và hình thức xử lý nếu có vi phạm quyền bào chữa.

– Về sự tham gia tố tụng của người bào chữa trong giai đoạn quyết định truy tố: Thực tiễn tố tụng cho thấy một số hoạt động của Kiểm sát viên như tiến hành phúc cung, thực nghiệm điều tra, trưng cầu giám định tư pháp… không có sự tham gia của người bào chữa. Các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của người bào chữa chưa được Viện kiểm sát trả lời hoặc giải quyết đối với trường hợp bị hạn chế, cản trở sự tham gia trong giai đoạn điều tra.

– Về sự tham gia tố tụng của người bào chữa trong giai đoạn xét xử tại Tòa án các cấp: Khoản 2 và Khoản 3 Điều 322 BLTTHS quy định Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để “đối đáp đến cùng” từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa; chủ toạ phiên toà không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án. Nếu Kiểm sát viên không đáp lại thì cũng không có cơ chế nào buộc Kiểm sát viên phải tranh luận, đối đáp đến cùng. Tại phiên tòa phúc thẩm, việc bổ sung chứng cứ mới hoặc bổ sung tài liệu, đồ vật của người bào chữa được quy định tại Điều 353 BLTTHS, nhưng trình tự thu thập các chứng cứ, tài liệu, đồ vật này và đánh giá thế nào là “chứng cứ mới” chưa được pháp luật quy định rõ. Theo Điều 383 BLTTHS, khi xét thấy cần thiết, Tòa án phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa và có thể triệu tập những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm, nhưng thế nào là trường hợp “xét thấy cần thiết” chưa được làm rõ.

– Về một số trình tự tố tụng thiếu vắng sự tham gia của luật sư: BLTTHS hiện hành chưa có quy định về sự tham gia của luật sư trong việc hỗ trợ pháp lý cho người bị kết án trong thủ tục thi hành án tử hình, xét tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích (Điều 367, 368 chương XXIV BLTTHS); sự tham gia của luật sư trong thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao theo yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban Tư pháp Quốc hội, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao.

1.3. Trong quá trình thi hành BLTTHS, một số vướng mắc, bất cập liên quan vấn đề bảo đảm quyền bào chữa nêu trên có thể xuất phát từ một số nguyên nhân:

Thứ nhất, quyền bào chữa gắn chặt với chức năng gỡ tội, có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với các chức năng cơ bản khác của TTHS Việt Nam là chức năng buộc tội và chức năng xét xử. Tuy nhiên, do mô hình TTHS Việt Nam về cơ bản vẫn là mô hình TTHS thẩm vấn, nên thực tế hoạt động tố tụng vẫn thuộc phần chủ động của các cơ quan tiến hành tố tụng. Phần điều hành và xét hỏi vẫn do chủ tọa phiên tòa tiến hành, chiếm phần lớn thời gian phiên tòa, trong khi về nguyên tắc, thủ tục xét hỏi chủ yếu phải dành cho Kiểm sát viên, người bào chữa.

Thứ hai, do địa vị pháp lý của người bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chỉ là người tham gia tố tụng[8], phạm vi hoạt động thuộc lĩnh vực “bổ trợ tư pháp” nên luật sư là người trợ giúp pháp lý còn mang tính bị động, chưa có cơ sở cho việc hành nghề một cách bình đẳng và độc lập với các chủ thể THTT. Còn thiếu cơ chế bảo đảm thực hiện quyền của những người tham gia tố tụng, đặc biệt là cơ chế bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo; chưa nhận diện và quy định chế tài đối với các hành vi cản trở quyền hành nghề của luật sư.

Thứ ba, những vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực thi TTHS và đảm bảo quyền bào chữa có phần xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ về quá trình dân chủ hóa hoạt động TTHS, dẫn đến hạn chế khả năng luật sư tham gia hiệu quả, góp phần cùng các cơ quan THTT làm rõ sự thật khách quan của vụ án, có thể nảy sinh rủi ro cao trong quá trình hành nghề của luật sư. Điều đó ảnh hưởng đến yêu cầu xây dựng một nền tư pháp dân chủ, công bằng, nghiêm minh, bảo vệ công lý, ảnh hưởng đến bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp.

2. Nhận thức và ý kiến về kỹ thuật lập quy nhằm nâng cao vị thế của luật sư trong Dự thảo BLTTHS (sửa đổi)

2.1. Về nhận thức và quan điểm hình thành nội dung góp ý dự thảo

BLTTHS giữ vai trò là thiết chế trung tâm bảo đảm thực thi quyền lực tư pháp, đồng thời là công cụ pháp lý quan trọng để Nhà nước xử lý hành vi vi phạm pháp luật hình sự, bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân. Yêu cầu mới đặt ra đối với hoạt động TTHS không chỉ dừng lại ở việc xử lý tội phạm nghiêm minh mà còn đòi hỏi: (1) Bảo đảm tính dân chủ, công bằng và nhân văn trong quá trình tố tụng; (2) Tăng cường tranh tụng và tính công khai, minh bạch; (3) Nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực tư pháp; (4) Bảo đảm quyền bào chữa, quyền tiếp cận công lý; (5) Ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số toàn diện trong hoạt động tố tụng; (6) Nâng cao hơn nữa hiệu quả phòng ngừa, thu hồi tài sản và xử lý tội phạm xuyên quốc gia[9].

Mục tiêu sửa đổi toàn diện BLTTHS nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, yêu cầu mới về cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và đấu tranh phòng, chống tội phạm; bảo vệ quyền con người, quyền công dân; kiểm soát quyền lực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án như tinh thần kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu trong Thông báo số 01-TB/BCD9TW ngày 6/7/2026 nêu trên.

Trong mục tiêu nói trên, vị trí, vai trò, việc đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp có ý nghĩa rất quan trọng. Quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa không chỉ là quyền Hiến định, mà còn được coi là quyền tự do dân chủ trọng yếu trong các quyền tự do dân chủ của công dân, trở thành một nguyên tắc tố tụng căn bản phải được tôn trọng và triệt để thực hiện. Bộ Tư pháp khi kiểm điểm công tác bào chữa theo chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã nhấn mạnh xâm phạm đến quyền tự do bào chữa thì không thể nào thực hiện được các quyền tự do dân chủ khác, mặc nhiên thủ tiêu các quyền tự do đó. Nếu người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không được sử dụng đầy đủ quyền bào chữa thì không gọi là có công lý[10].

Từ chiến lược cải cách tư pháp và chiến lược phát triển nghề luật sư ở Việt Nam, cải cách tư pháp hình sự đang là một trong những nội dung quan trọng của cải cách tư pháp nhằm mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với các cơ quan tư pháp ngày càng cao, thông qua việc thực hiện chức năng xã hội của mình, đội ngũ luật sư phải thực sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc hỗ trợ, tư vấn về mặt pháp lý nhằm bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm pháp luật.

3.2. Về điều chỉnh kỹ thuật lập quy tại chương IV và chương V

Hiện nay, cách thiết kế về địa vị pháp lý của người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố (trong đó luật sư là diện chủ thể chính yếu) là người tham gia tố tụng được quy định tại Khoản 17, 18 và 19 Điều 59 chương IV dự thảo BLTTHS. Khác với những người tham gia tố tụng khác đã được định nghĩa ngay tại Chương IV, riêng định nghĩa về người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp lại được chuyển lên các Điều tại chương V là không hợp lý về mặt kỹ thuật lập quy.

Xét về bản chất thì chức năng gỡ tội tồn tại độc lập và đối trọng với chức năng buộc tội như một tất yếu khách quan tự thân của TTHS. Về nhận thức, cần xem xét địa vị pháp lý của luật sư là một chủ thể tư pháp có vị thế độc lập và bình đẳng về chức năng cơ bản của TTHS trong sự vận hành thống nhất của thể chế tư pháp. Trong điều kiện đất nước bước vào kỷ nguyên mới và yêu cầu của chiến lược cải cách tư pháp theo các Nghị quyết của Đảng, đội ngũ luật sư đã được nhìn nhận có vai trò quan trọng trong quá trình tranh tụng và tư vấn pháp luật, là những người được đào tạo và hành nghề chuyên nghiệp dựa trên pháp luật và Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư. Trong xã hội, luật sư có sứ mệnh bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân, đảm bảo việc thực thi pháp luật được đúng đắn, bảo vệ công lý, góp phần phát triển kinh tế, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Có thể khẳng định, tiêu chuẩn của luật sư và giá trị của hoạt động nghề nghiệp luật sư không khác gì những người tiến hành tố tụng hoặc các chức danh tư pháp khác.

Do đó, LĐLSVN một lần nữa đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, tách các Khoản 17, 18 và 19 Điều 59 chương IV quy định về người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố sang chương V có tên chung là “bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự”.

3. Về góp ý chi tiết các Điều luật dự thảo BLTTHS liên quan đến vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ của luật sư trong các giai đoạn tố tụng

Trên cơ sở nhận thức, quan điểm nêu trên, Liên đoàn Luật sư Việt Nam trân trọng kính đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo và cơ quan có thẩm quyền khi tiến hành thẩm định trình Quốc hội thảo luận và biểu quyết thông qua, quan tâm xem xét một số góp ý chi tiết các Điều luật trong dự thảo BLTTHS (sửa đổi) của LĐLSVN (đính kèm Phụ lục góp ý chi tiết các Điều luật trong Dự thảo BLTTHS (sửa đổi), bản cập nhật đến ngày 18/8/2026).

Phụ lục góp ý chi tiết các điều luật trong dự thảo BLTTHS (sửa đổi) (bản cập nhật ngày 18/8/2026 sau khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội kết luận) ban hành kèm theo Văn bản số 463/LĐLSVN ngày 21/9: 

[1] Báo cáo số 557 /BC-UBPLT116 ngày 16/7/2026 về thầm tra sơ bộ Dự án BLTTHS (sửa đổi) của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, Kết luận số 123 /KL-UBTVQH16 ngày 18/7/2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[2] Số lượng luật sư chính thức ở Việt Nam tính đến ngày 31/7/2026 là 23.256 luật sư và gần 10.000 người tập sự hành nghề luật sư.

[3] Xin tham khảo Báo cáo số 422/BC-NTP ngày 10/6/2026 của Bộ Tư pháp gửi Chính phủ về tổng kết thi hành Luật Luật sư.

[4] Tham khảo Báo cáo tổng kết, đánh giá chế định bào chữa viên nhận dân tháng 11/2025 của Hội Luật gia Việt Nam: Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân 22/34 tỉnh, thành phố từ năm 2015 đến năm 2025, trong tổng số 715.092 người bị buộc tội, chỉ có 136.827 bị can, bị cáo có người bào chữa, trong đó có 66.132 luật sư (chiếm 48,33%), 39.175 trợ giúp viên pháp lý (chiếm 28,63%), 3.941 người đại diện (chiếm 2,88%) và chỉ có 69 bào chữa viên nhân dân (chiếm 0,05%). Qua số liệu thống kê chưa đầy đủ, có thể nhận thấy số lượng BCVND tham gia bào chữa còn quá ít, chiếm tỉ lệ rất thấp (0,05%) so với việc tham gia bào chữa của luật sư (48,33%), trợ giúp viên pháp lý (28,63%) và thậm chí thấp hơn cả người đại diện (2,88%).

[5] Để có thể gặp mặt bị can trong Trại tạm giam, người bào chữa sau khi xuất trình Thông báo về việc đăng ký bào chữa, Giám thị Trại giam phải ban hành Quyết định cho phép bị can làm việc với luật sư, trong giai đoạn điều tra thường yêu cầu phải có Điều tra viên, Kiểm sát viên tham dự mặc dù không thuộc vụ án xâm phạm an ninh quốc gia.

[6] Thông tư số 70/2011/TT-BCA ngày 10/10/2011 và Thông tư số 46/TT-BCA ngày 10/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn các quy định của BLTTHS về bảo đảm quyền bào chữa trong vụ án hình sự quy định ngay từ khi lập biên bản giao nhận quyết định bắt người tạm giữ, quyết định khởi tố, bắt tạm giam bị can, Điều tra viên bắt buộc phải hỏi và ghi nhận vào trong biên bản ý kiến của họ về việc có nhờ người bào chữa hay không?

[7] Về vấn đề này, trước đây, trong Công văn số 752/C16 (P6) ngày 18/7/2007 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an có hướng dẫn: “Việc có mặt của người bào chữa trong một số hoạt động điều tra, truy tố và xét xử được thực hiện theo điều 58 BLTTHS, không buộc họ phải có mặt trong tất cả các buổi hỏi cung. Chỉ những hoạt động điều tra nào có mặt của người bào chữa thì mới phải ghi rõ vào biên bản có chữ ký xác nhận của người bào chữa. Các biên bản hỏi cung, biên bản các hoạt động điều tra khác mà người bào chữa không tham gia vẫn có nguyên giá trị pháp luật. Do đó, không được coi người bào chữa không có mặt trong tất cả các buổi hỏi cung là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng để trả hồ sơ điều tra bổ sung”.

[8] Điều bất hợp lý về mặt kỹ thuật lập quy là người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự được liệt kê tại Khoản 17, 18 và 19 Điều 55 chương IV (Người tham gia tố tụng), nhưng khái niệm, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể này lại được quy định tại Chương V (Bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự).

[9] Tờ trình số 17 /TTr-VKSTC ngày 13/7/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao về Dự án BLTTHS (sửa đổi).

[10] Thông tư số 2225-HCTP ngày 24/10/1956 của Bộ Tư pháp về chấn chỉnh việc thực hiện quyền bào chữa của bị can.